CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG MỞ (OPEN BANKING) VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ NGÂN HÀNG MỞ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng mở 1. Khái niệm ngân hàng mở (Open Banking) NHM (Open Banking) đã quen thuộc với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, mô hình này chỉ mới được du nhập và chưa thực sự được nhiều người biết đến.
Trước tiên, định nghĩa NHM đã được nhiều nhà nghiên cứu trình bày trong các tác phẩm chuyên sâu về lĩnh vực ngân hàng của họ. Cụ thể như sau: Deloitte cho rằng “Ngân hàng mở được sử dụng để mô tả sự chuyển đổi từ mô hình đóng sang mô hình mở, trong đó dữ liệu được chia sẻ giữa các thành viên khác nhau của hệ sinh thái ngân hàng với sự cho phép của khách hàng trong việc khai thác sử dụng dữ liệu của họ” (Deloitte, 2017). Theo cách hiểu của Deloitte, NHM có cách mô tả là một động từ, thể hiện quá trình chuyển đổi giữa hai dạng thức mô hình từ đóng sang mở của các ngân hàng. Điểm được nhấn mạnh trong định nghĩa này là tính hợp pháp trong việc chia sẻ các dữ liệu cho các thành viên trong cùng môi trường của mô hình NHM, đồng thời có điều kiện quan trọng là khách hàng cho phép các thành viên của mô hình NHM được khai thác, sử dụng dữ liệu của họ.
Tuy nhiên, định nghĩa “ngân hàng mở” của Deloitte chưa đề cập đến các quyền cụ thể của khách hàng như việc khách hàng có thể cấp quyền truy cập, sử dụng dữ liệu của họ cho các thành viên của mô hình NHM trong các trường hợp cụ thể, cách diễn đạt của Deloitte có thể dẫn đến việc một khi đã cấp quyền thì khách hàng hoàn toàn không còn kiểm soát được sự truy cập, sử dụng dữ liệu của họ vào các mục đích gì của thành viên mô hình NHM. Nhưng Ủy ban Basel lại nhận định “Ngân hàng mở là việc ngân hàng chia sẻ dữ liệu được khách hàng cho phép khai thác với bên thứ ba cung cấp dịch vụ thanh toán theo thời gian thực, khách hàng có thể chọn lựa các dịch vụ một các minh bạch và dễ dàng hơn” (Ủy ban Basel, 2019). Tương tự định nghĩa do Deloitte đưa ra về NHM, định nghĩa “ngân hàng mở” do Ủy ban Basel đưa ra cũng thể hiện dưới dạng định nghĩa 1 một động từ. Định nghĩa này nhất mạnh vào hành động ngân hàng chia sẻ dữ liệu của khách hàng mà đã được họ cho phép cho bên thứ ba.
Định nghĩa này hướng đến một đối tượng hẹp hơn là vấn đề cấp quyền truy cập, chia sẻ dữ liệu khách hàng trong dịch vụ thanh toán theo thời gian thực, nhưng giải thích được lợi ích của nó đối với khách hàng là mang lại quyền lựa chọn dịch vụ minh bạch, nhanh chóng, dễ dàng. Dù vậy, định nghĩa ngắn gọn này chưa mô tả rõ quyền quyết định trường hợp truy cập, chia sẻ dữ liệu của khách hàng – chủ sở hữu của các dữ liệu ấy. Với nhóm tác giả Laplante & Kshetri, họ cho rằng “Ngân hàng mở là một loại hệ sinh thái tài chính mà các bên thứ ba (nhà cung cấp dịch vụ) có quyền truy cập vào các dữ liệu ngân hàng thông qua việc sử dụng các giao diện lập trình ứng dụng (API)” (Laplante & Kshetri, 2021). Laplante và Kshetri mô tả định nghĩa NHM là một danh từ, chỉ một hệ sinh thái tài chính.
Định nghĩa này mô tả được cách vận hành của NHM là thông qua sử dụng API cũng như nhấn mạnh và hoạt động truy cập vào dữ liệu ngân hàng của bên thứ ba. Tuy nhiên, dữ liệu ngân hàng được nhắc đến trong định nghĩa được bao hàm quá rộng chứ không chỉ có dữ liệu khách hàng, bên cạnh đó định nghĩa này cũng không nói đến chủ thể cấp quyền cho bên thứ ba truy cập và dữ liệu ngân hàng. Bên cạnh đó, nhóm các tác giả Daiy, Shen, Huang và Lin định nghĩa về NHM như sau: ”Ngân hàng mở là một mô hình hợp tác liên ngành giữa các ngân hàng và các tổ chức khác trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính” (Daiy, Shen, Huang và Lin, 2021). Đối với định nghĩa “NHM” của nhóm tác giả trên, đây là một định nghĩa ngắn gọn và mô tả NHM là một danh từ, bao quát chung về NHM qua việc mô tả sự hợp tác giữa ngân hàng và các bên thứ ba nhằm mục tiêu cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính cho khách hàng.
Tuy nhiên định nghĩa không mô tả rõ quá trình hợp tác liên ngành này gồm các hoạt động chính gì. Như vậy, từ các định nghĩa trên của các nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu có thể rút ra những điểm mạnh và hạn chế trong mỗi định nghĩa. Về ưu điểm, các định nghĩa có sự mô tả bao quát và dễ hiểu về NHM, mỗi định nghĩa đã nêu ra được một đặc điểm của NHM. Về nhược điểm, các định nghĩa có sự mâu thuẫn về cách xác định NHM là một hoạt động (động từ) hay một mô hình (danh từ), điều này dẫn đến việc khó xác định trong cách ứng dụng NHM.
Thứ hai, các định nghĩa trên đều chưa nhấn mạnh vào 2 quyền của khách hàng – chủ sở hữu dữ liệu trong việc chia sẻ dữ liệu của bản thân cho bên thứ ba ngoài ngân hàng. Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng của NHM như sau: Thứ nhất, khách hàng là người nắm quyền chia sẻ thông tin và dữ liệu khi sử dụng NHM. Khách hàng là bên toàn quyền quyết định thông tin nào nằm trong dữ liệu khách hàng mà ngân hàng đang nắm giữ được chia sẻ cho bên thứ ba. Ví dụ, ngân hàng và các công ty cung cấp dịch vụ truyền thông, mạng viễn thông di động, dịch vụ nghe nhìn,… hợp tác, tuy nhiên không phải cứ thông tin nào mà khách hàng đã đăng ký với ngân hàng sẽ được chia sẻ toàn bộ cho các công ty trên, khách hàng có thể lựa chọn chia sẻ thông tin như tên, độ tuổi, số điện thoại liên hệ cho công ty mạng viễn thông; chia sẻ thông tin về sở thích, nghề nghiệp,… cho công ty dịch vụ nghe nhìn,… Thứ hai, NHM là sự hợp tác giữa ngân hàng và bên thứ ba là các công ty công nghệ.
Đặc điểm này thể hiện ở việc các ngân hàng thay vì chỉ cung cấp các dịch vụ cơ bản thì họ sẽ hợp tác với các công ty, doanh nghiệp công nghệ nhằm cung cấp các dịch vụ hoàn thiện, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Hiện nay, ứng dụng trên điện thoại của các khách hàng có thể thực hiện các thao tác như trả hóa đơn tiền điện, nước, mua chứng khoán, nạp thẻ điện thoại hay mua vé xem phim, vé máy bay,… Nhưng NHM sẽ hướng đến việc khách hàng ngoài những thao tác chi trả hóa đơn được định sẵn ở trong ứng dụng còn có thể tìm kiếm các nhà cung cấp khác phù hợp với nhu cầu của mình, quản lý chi tiêu và đáp ứng nhu cầu mọi mặt một cách nhanh chóng và dễ dàng. Thứ ba, NHM cam kết bảo mật dữ liệu khách hàng. Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của NHM là tính bảo mật.
Xu hướng công nghệ thông tin ngày càng phát triển, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt đã nâng cao, tuy nhiên nguy cơ thông tin, dữ liệu khách hàng bị rò rỉ, đánh cắp cũng ngày càng phổ biến. Dữ liệu khách hàng khi bị rò rỉ sẽ tạo ra hệ lụy như việc các hành vi mua sắm của khách hàng bị theo dõi, thông tin khách hàng bị công khai, mua bán, vấn nạn lừa đảo, giả mạo, đánh cắp tài sản,… Vì thế, NHM với đặc trưng là có sự liên kết, chia sẻ thông tin với các bên thứ ba nhằm theo dõi hành vi và ghi nhớ, gợi ý các dịch vụ, sản phẩm phù hợp với khách hàng, thì khách hàng sẽ là bên nắm quyền quản lý dữ liệu cá nhân của mình có thể chia sẻ và lưu giữ như thế nào, ngân hàng cung cấp dịch vụ và các bên liên quan có nghĩa 3 vụ cam kết với khách hàng về tính bảo mật của NHM. Nếu ngân hàng và các đối tác làm tốt điều này, khách hàng sẽ yên tâm sử dụng dịch vụ, uy tín của họ được giữ vững và nâng cao. Thứ tư, NHM được thực hiện thông qua sử dụng các giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interface - API).
Các công ty công nghệ và ngân hàng cùng xây dựng hệ thống giao diện lập trình ứng dụng. Giao diện lập trình ứng dụng được hiểu đơn giản là cơ chế cho phép 2 thành phần phần mềm giao tiếp với nhau bằng một tập hợp các định nghĩa giao thức (Theo Trang thông tin Amazon.com, 2023), ví dụ như hệ thống phần mềm định vị vệ tinh và ứng dụng định vị trên điện thoại di động sẽ “giao tiếp”, trao đổi, cập nhật thông tin hằng ngày thông qua API, chúng ta có thể xem định vị vị trí bất cứ lúc nào trên điện thoại miễn là có bật định vị. Việc sử dụng API có thể coi là hợp đồng dịch vụ giữa hai ứng dụng, xác định cách thức hai ứng dụng sẽ giao tiếp thông qua các yêu cầu và phản hồi liên tục được gửi, tài liệu API chứa đựng thông tin về dữ liệu cấu trúc cho các yêu cầu và phản hồi trên của nhà phát triển ứng dụng. API cho phép bên thứ ba truy cập vào dữ liệu mở hay truy cập bảo mật đến các dữ liệu khách hàng đóng của ngân hàng khi được sự đồng ý của khách hàng (chủ sở hữu dữ liệu) và tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan; API giúp kết nối các tài khoản của khách hàng và cho phép truy cập, truy xuất và đối chiếu các giao dịch giữa tổ chức tín dụng với khách hàng để đảm bảo tính xác thực.
Thứ năm, NHM cung cấp cho khách hàng các dịch vụ và sản phẩm một cách minh bạch, thuận tiện hơn. Tính minh bạch khi cung cấp dịch vụ của NHM thể hiện ở việc giá cả sản phẩm, dịch vụ đã được niêm yết sẵn, khách hàng sẽ lựa chọn mức giá phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả, các giao dịch sẽ được lưu giữ lại để khách hàng xem khi cần. Còn tính thuận tiện thể hiện qua việc khách hàng có thể dễ dàng sử dụng NHM một cách dễ dàng nhất, không cần phải giao dịch trực tiếp hay mất thời gian chờ đợi mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch một cách nhanh chóng.