Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công giữ vị trí then chốt trong việc duy trì trật tự xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, an toàn cộng đồng và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sự phát triển bền vững của quốc gia. Trong tiến trình đổi mới kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước được khẳng định qua các kỳ Đại hội là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước và thực hiện chủ trương xã hội hoá dịch vụ công cộng.
Về phương diện thể chế, sự hình thành các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 56/CP ngày 02/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, và sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo nền tảng pháp lý bước đầu cho việc phân định doanh nghiệp kinh doanh thông thường với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thực định vẫn tồn tại nhiều hạn chế: chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước chưa được bao quát và phân định rõ ràng; thể chế tài chính công còn bất cập; thủ tục hành chính còn vướng mắc; các quy định điều chỉnh doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công chưa có tính hệ thống và chưa theo kịp sự đa dạng của các thành phần kinh tế tham gia vào khu vực này.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công dưới giác độ kinh tế học, quản trị công hoặc phân tích đơn lẻ một số khía cạnh hành chính. Chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và triệt để về địa vị pháp lý, tổ chức bộ máy, quyền và nghĩa vụ cũng như cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp tham gia cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung trọng tâm:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn của hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công và pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.
- Phát hiện những quy định bất cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức, hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hàng hoá, dịch vụ công và hoạt động cung ứng; sự cần thiết khách quan của hoạt động này trong nền kinh tế - xã hội; vai trò của Nhà nước và các chủ thể khác trong quản lý và tổ chức cung ứng.
- Phân biệt doanh nghiệp hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh thông thường; xác lập cơ sở để xây dựng cơ chế cung ứng và quản lý phù hợp cho từng loại hình.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công; chỉ rõ những điểm mâu thuẫn, chồng chéo và khoảng trống pháp lý so với đòi hỏi thực tiễn.
- Đưa ra hệ thống phương hướng và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu cơ bản:
- Cung ứng hàng hoá, dịch vụ công và doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là gì; ý nghĩa, vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội được xác định như thế nào?
- Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật đang quy định cho các doanh nghiệp hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công dưới những mô hình nào; những ưu điểm và hạn chế của các quy định đó là gì?
- Những yêu cầu thực tiễn nào đang đặt ra đối với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công; các phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật này là gì?
Gắn liền với các câu hỏi trên, luận án đưa ra 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là hoạt động mang tính chính trị - pháp lý và nhân văn sâu sắc, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giữ vững ổn định chính trị và phát triển bền vững đất nước.
- Giả thuyết 2: Thực tiễn cung ứng hàng hoá, dịch vụ công tại Việt Nam thời gian qua tuy phát triển mạnh về số lượng nhưng còn nhiều bất cập do chưa được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ, dẫn đến hoạt động này chưa phát huy đầy đủ hiệu quả xã hội và tiềm ẩn tác động tiêu cực đến chất lượng cung ứng.
- Giả thuyết 3: Để nâng cao chất lượng và hiệu quả cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành là yêu cầu bắt buộc, tập trung vào việc xác định rõ địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp tham gia, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm tài sản tương ứng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công; hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh các quan hệ này; các mô hình tổ chức doanh nghiệp và kinh nghiệm lập pháp quốc tế liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở góc độ pháp luật kinh tế đối với loại hình doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công tại Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; tập trung vào khung thể chế từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành tính đến năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo các nhóm chủ đề nội dung:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
- Bản chất hàng hoá công (Joseph E. Stiglitz, 1998) - Khái niệm, xã hội hoá DVC (Lê Chi Mai, 2000, 2003)
- Quản lý khu vực công (Public Administration, 1945+) - Từ điển, thuật ngữ hành chính (Đinh Ngọc Hiện, 2009)
- 9 nguyên tắc cung ứng dịch vụ công (Vương quốc Anh) - Quản lý và cung ứng DVC (Nguyễn Ngọc Hiến, 2002)
- Mô hình "Chính phủ nhỏ, hiệu quả" (Bill Clinton, Al Gore) - Địa vị pháp lý, mô hình DN (Nguyễn Như Phát, 1999, 2005)
- Đặc trưng kinh tế kế hoạch hoá (Hist. Planned Economies) - Pháp luật DN và tài sản (Lê Thị Châu, Trần Đình Hảo, Phạm Duy Nghĩa)
-
Về khái niệm và bản chất của hàng hoá, dịch vụ công:
- Tài liệu quốc tế: World Book Encyclopedia (1998) chỉ rõ hàng hoá, dịch vụ công là công cụ bảo vệ lợi ích công cộng của Chính phủ, khó tạo lợi nhuận cho kinh tế tư nhân nên thường do Nhà nước duy trì; giáo trình Public Administration làm rõ khái niệm khu vực công hình thành sau năm 1945 để phân biệt với khu vực tư nhân; tác phẩm Kinh tế học công cộng của Joseph E. Stiglitz xác định hai thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng thuần tuý là không thể phân bổ theo khẩu phần và người tiêu dùng không muốn sử dụng theo khẩu phần.
- Tài liệu trong nước: Tác phẩm Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam (2003) của PGS. Lê Chi Mai đưa ra định nghĩa và 6 đặc trưng của dịch vụ công; công trình Thuật ngữ hành chính (2009) do TS. Đinh Ngọc Hiện chủ biên phân định dịch vụ công, dịch vụ công cộng và dịch vụ công ích; các kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Hành chính Quốc gia (2001, 2002, 2005) và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2002) tập trung nhận diện vai trò của Nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
-
Về cơ chế quản lý và mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công:
- Tài liệu Historically Planned Economies phân tích các khuyết tật của việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung do cơ chế phân bổ bằng mệnh lệnh hành chính, triệt tiêu động lực cạnh tranh và kiểm soát ngân sách kém hiệu quả.
- Tài liệu The Nine Principles of Public Service Delivery của Chính phủ Vương quốc Anh nêu 9 nguyên tắc cung ứng dịch vụ công chuẩn mực (tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch thông tin, tham vấn người dùng, bảo đảm tiếp cận, đối xử công bằng, sửa sai kịp thời, sử dụng hiệu quả nguồn lực, không ngừng đổi mới, tăng cường hợp tác).
- Báo cáo Chính phủ nhỏ nhưng hiệu quả của Tổng thống Bill Clinton và Phó Tổng thống Al Gore chỉ ra sự chuyển dịch từ việc Nhà nước trực tiếp làm sang việc Nhà nước bảo đảm các dịch vụ được thực hiện thông qua việc huy động nguồn lực xã hội.
-
Về địa vị pháp lý của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công:
- Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam (1998) của Khoa Luật - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xác định doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là công cụ bảo đảm vai trò xã hội của Nhà nước.
- Tác phẩm Luật kinh doanh (1999) của ThS. Nguyễn Thị Khế và ThS. Bùi Thị Khuyên phân tích quyền và nghĩa vụ đặc thù của doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Các bài viết học thuật chuyên sâu của PGS. Nguyễn Như Phát trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 5/1999, số 7/2005) nghiên cứu phương pháp luận hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, nhấn mạnh mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty hợp danh trong việc cung ứng dịch vụ công chuyên môn đặc thù gắn với trách nhiệm vô hạn.
- Các nghiên cứu của Trần Đình Hảo (1999), PGS. Lê Thị Châu (2001), PGS. Phạm Duy Nghĩa (2006) phân tích cơ chế xác lập tài sản, tư cách pháp nhân và môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Các luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Nhung (1998), Nguyễn Huy Luân (2001) và đề tài cấp Bộ của Nguyễn Hiệp (2005), ThS. Vũ Thanh Sơn (2006), TS. Võ Kim Sơn (2001), TS. Phạm Thị Bích Hoa (2003) nghiên cứu về cơ chế xã hội hoá, mô hình công ty quản lý vận hành đô thị và mở rộng cạnh tranh khu vực công.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy phần lớn các công trình tiếp cận vấn đề từ góc độ khoa học hành chính hoặc kinh tế học, nghiên cứu riêng rẽ từng loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích mà chưa xây dựng được cơ sở lý luận thống nhất về địa vị pháp lý của mọi loại hình doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp ngoài nhà nước) tham gia cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích tổng thể khung pháp luật kinh tế điều chỉnh doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, xác định rõ tiêu chí phân loại, đặc điểm pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp tương thích với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật:
- Luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: coi cán bộ, cơ quan nhà nước là "công bộc của dân", lấy mục tiêu phục vụ nhân dân làm thước đo trách nhiệm xã hội; đồng thời khẳng định chủ trương "Chính phủ nhân dân sẽ tận tâm giúp giới công thương trong công cuộc kiến thiết".
- Khung lý thuyết phân tích: dựa trên học thuyết về vai trò, giá trị xã hội của Nhà nước, nguyên lý của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lý thuyết về hàng hoá công cộng.
- Định nghĩa khái niệm do luận án xây dựng: Hàng hoá, dịch vụ công là thuật ngữ chỉ những sản phẩm, công việc được trao đổi phục vụ cho lợi ích chung và nhu cầu thiết yếu của cộng đồng xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, bí mật quốc gia do Nhà nước hay những chủ thể khác được Nhà nước uỷ nhiệm đứng ra tổ chức thực hiện, nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định, an toàn, phát triển bình thường của xã hội mà không lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành luật học:
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Áp dụng xuyên suốt các chương, đặc biệt trong việc đối chiếu quy định pháp luật thực định với thực tiễn tổ chức hoạt động của doanh nghiệp, làm căn cứ xây dựng kiến nghị lập pháp.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, mổ xẻ các khái niệm, quy chế pháp lý về thành lập, tổ chức quản lý, trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp; sau đó tổng hợp thành các luận điểm khoa học có tính khái quát.
- Phương pháp hệ thống: Xâu chuỗi các nội dung từ cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử, thực trạng quy định đến hệ thống giải pháp bảo đảm tính logic, chặt chẽ và kế thừa.
- Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 4 nhằm phân tích kinh nghiệm tổ chức mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công của một số quốc gia (như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ), đối chiếu với các quy định pháp luật Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Xem xét sự chuyển biến của pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công qua từng thời kỳ lịch sử của Việt Nam (từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước 1986, giai đoạn ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995, 2003 đến Luật Doanh nghiệp 2005).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án là dữ liệu văn bản pháp lý và tư liệu học thuật, bao gồm:
- Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (Đại hội VIII, IX, X, XI), các Nghị quyết Trung ương liên quan đến sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và đổi mới dịch vụ công.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995, 2003), Luật Doanh nghiệp (1999, 2005), Luật Công chứng (2006), Luật Luật sư (2006), Luật Kiểm toán độc lập (2011), các Nghị định của Chính phủ (Nghị định 56/CP, Nghị định 79/2007/NĐ-CP...) và thông tư hướng dẫn chuyên ngành.
- Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, sách chuyên khảo, bài báo đăng trên các tạp chí pháp lý chuyên ngành trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hàng hoá, dịch vụ công và doanh nghiệp cung ứng trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sự chuyển dịch nhận thức từ mô hình Nhà nước trực tiếp quản lý, sản xuất theo mệnh lệnh hành chính sang mô hình phân định chức năng quản lý công quyền với chức năng cung ứng dịch vụ. Chương này thiết lập cơ sở lý luận phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng phục vụ của Nhà nước và các chủ thuyết kinh tế - pháp lý hiện đại, đồng thời xác lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ công trình.
Chương 2. Lý luận về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công và pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống lý luận khoa học pháp lý hoàn chỉnh về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, bao gồm các luận điểm cốt lõi:
-
Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công:
- Về mục đích: Hoạt động trước hết vì lợi ích công cộng và nhiệm vụ chính trị - xã hội; lợi nhuận chỉ mang tính thứ yếu, được tạo điều kiện khi đã hoàn thành nhiệm vụ công ích.
- Về nhiệm vụ: Trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc có tối thiểu 70% doanh thu phát sinh từ sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng trong các danh mục do Nhà nước quy định (hạ tầng đường sắt, đường bộ, hàng hải, thuỷ lợi, sách giáo khoa, phim tài liệu, chiếu bóng vùng sâu vùng xa...).
- Về bộ máy quản trị: Có sự tách bạch giữa bộ phận điều hành hoạt động công ích và bộ phận kinh doanh thông thường.
- Về mức độ tự chủ: Tính tự chủ trong kinh doanh bị giới hạn; việc định giá bán sản phẩm, kế hoạch cung ứng và thị trường phục vụ phụ thuộc vào mức giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định thông qua hình thức giao kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu.
- Về đối tượng thụ hưởng: Hướng tới bảo đảm sự tiếp cận bình đẳng cho mọi thành viên xã hội, đặc biệt ưu tiên các đối tượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, vùng sâu, vùng xa, hải đảo).
-
Phân loại doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công:
| Tiêu chí phân loại |
Các loại hình doanh nghiệp cụ thể |
Đặc trưng pháp lý chủ yếu |
| Theo tính chất cung ứng |
1. Doanh nghiệp cung ứng HH, DV dân sinh 2. Doanh nghiệp cung ứng HH, DV công quyền |
- Phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt chung (cây xanh, rác thải, thoát nước, điện, nước). - Gắn liền với quyền lực công, tạo lập căn cứ quản lý nhà nước (công chứng, chứng thực, kiểm toán). |
| Theo mục đích hoạt động |
1. Doanh nghiệp hoạt động công ích thuần tuý 2. Doanh nghiệp kết hợp hoạt động kinh doanh |
- Không lấy lợi nhuận làm mục tiêu, hạch toán giảm chi phí, nhận bù lỗ/hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. - Kết hợp mục tiêu công ích bắt buộc với kinh doanh sinh lời theo quy định pháp luật. |
| Theo mô hình tổ chức pháp lý |
1. Công ty TNHH hai thành viên trở lên 2. Công ty TNHH một thành viên 3. Công ty cổ phần 4. Công ty hợp danh 5. Doanh nghiệp tư nhân |
- Thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005. - Công ty hợp danh đặc biệt thích hợp cho các dịch vụ đòi hỏi nhân thân và chuyên môn cao (công chứng, luật sư). |
| Theo hình thức sở hữu vốn |
1. Doanh nghiệp có vốn sở hữu nhà nước 2. Doanh nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội 3. Doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân 4. Doanh nghiệp có vốn sở hữu hỗn hợp |
- Chuyển đổi từ DNNN sang công ty TNHH/Cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005. - Doanh nghiệp thuộc sở hữu Công đoàn, Đoàn Thanh niên... - Doanh nghiệp của nhà đầu tư tư nhân tham gia xã hội hoá. - Doanh nghiệp liên doanh, đa sở hữu vốn. |
-
Vai trò của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công:
- Bảo đảm sự phát triển ổn định, bình đẳng và công bằng xã hội;
- Bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần;
- Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất - xã hội;
- Phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá;
- Đóng vai trò công cụ điều tiết, can thiệp vĩ mô của Nhà nước đối với các lĩnh vực thiết yếu và địa bàn chiến lược.
-
Bài học kinh nghiệm quốc tế:
Chương này phân tích các mô hình chuyển giao dịch vụ công cho khu vực tư nhân, phương thức đấu thầu hợp đồng công, và bài học về áp dụng 9 nguyên tắc cung ứng dịch vụ công tại Vương quốc Anh, từ đó nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển dịch vai trò của Nhà nước từ "người trực tiếp làm" sang "người kiến tạo và bảo đảm thực hiện".
Chương 3. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam
Chương 3 tái hiện bức tranh lập pháp và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam:
- Tiến trình lập pháp: Phân tích giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung (bao cấp hoàn toàn) sang giai đoạn ghi nhận sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích qua Nghị định số 56/CP năm 1996, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, và bước tiến lập pháp thống nhất tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 điều chỉnh chung cho mọi thành phần kinh tế.
- Nội dung pháp luật thực định: Khảo sát các quy định về điều kiện gia nhập thị trường, cơ chế cấp phép, chế độ quản trị nội bộ, phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch, và cơ chế định giá, bù chéo chi phí đối với sản phẩm, dịch vụ công ích.
- Các hạn chế, bất cập nổi cộm:
- Khái niệm hàng hoá, dịch vụ công chưa được chuẩn hoá trong các văn bản luật cơ bản, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các ngành;
- Tiêu chí xác định và danh mục các loại hàng hoá, dịch vụ công ích còn thiếu linh hoạt, chưa phản ánh đúng sự vận động của kinh tế thị trường;
- Quy định về mô hình tổ chức doanh nghiệp và trách nhiệm tài sản chưa tương thích với tính chất đặc thù của một số ngành nghề chuyên môn cao (như sự bất cập trong quy định về tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh trong lĩnh vực công chứng, kiểm toán);
- Thể chế xã hội hoá dịch vụ công chưa đồng bộ, còn sự phân biệt đối xử hoặc thiếu cơ chế hỗ trợ tài chính rõ ràng đối với các doanh nghiệp tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công;
- Cơ chế giám sát chất lượng cung ứng, quy trình bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dịch vụ công và chế tài xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm công vụ của cơ quan quản lý nhà nước chưa hoàn thiện.
Chương 4. Phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các giải pháp lập pháp cụ thể:
- Những yêu cầu thực tiễn: Hoàn thiện pháp luật phải bám sát mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và bảo đảm công bằng xã hội.
- Phương hướng hoàn thiện:
- Chuẩn hoá, luật hoá các khái niệm khoa học pháp lý về hàng hoá, dịch vụ công và doanh nghiệp cung ứng trong Luật Doanh nghiệp;
- Hoàn thiện môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, không phân biệt hình thức sở hữu giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân khi tham gia cung ứng dịch vụ công;
- Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước theo hướng phân định rành mạch giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, chức năng quản lý hành chính và chức năng tổ chức kinh doanh cung ứng.
- Các giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế doanh nghiệp: Sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Luật Doanh nghiệp liên quan đến doanh nghiệp công ích; chuẩn hoá quy chế pháp lý về công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
- Nhóm giải pháp về cơ chế tài chính và hợp đồng: Hoàn thiện quy chế đấu thầu, đặt hàng cung ứng sản phẩm công ích; xây dựng khung pháp lý minh bạch về định giá, trợ giá và kiểm soát giá của Nhà nước;
- Nhóm giải pháp về giám sát và thực thi: Tăng cường cơ chế thanh tra, kiểm tra chất lượng dịch vụ; quy định rõ trách nhiệm tài sản và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp cung ứng khi xảy ra sự cố; thiết lập quy trình giải quyết khiếu nại của người thụ hưởng dịch vụ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã xây dựng và hệ thống hóa khái niệm khoa học pháp lý về hàng hoá, dịch vụ công và doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, xác định rõ tính chất phục vụ xã hội phi lợi nhuận thuần tuý là đặc trưng xuyên suốt chi phối quy chế pháp lý của loại hình này.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí phân loại toàn diện doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công dựa trên 4 giác độ: tính chất cung ứng (dân sinh/công quyền), mục đích hoạt động (công ích/kết hợp kinh doanh), mô hình tổ chức (5 loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp) và hình thức sở hữu vốn (nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tư nhân, hỗn hợp).
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa vai trò điều tiết của Nhà nước và tính tự chủ của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam (giai đoạn từ sau đổi mới đến năm 2013), chỉ rõ những mâu thuẫn giữa quy định chung của Luật Doanh nghiệp năm 2005 với các luật chuyên ngành (Luật Công chứng, Luật Luật sư, Luật Kiểm toán độc lập...).
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp có cơ sở khoa học nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến cơ chế xã hội hoá dịch vụ công ích tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tập trung nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế, luận án tập trung phân tích khung pháp luật thể chế, địa vị pháp lý và mô hình tổ chức doanh nghiệp; chưa đi sâu vào chi tiết các khía cạnh kinh tế kỹ thuật như định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phương pháp hạch toán kế toán chi tiết cho từng loại hình dịch vụ công riêng biệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu mở rộng khung pháp lý đối với các mô hình đối tác công tư (PPP) trong cung ứng dịch vụ công; đánh giá tác động của các đạo luật sửa đổi sau giai đoạn 2013 đối với quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật kinh tế, Luật hành chính, Quản lý công và Kinh tế học công cộng khi nghiên cứu về thể chế doanh nghiệp và dịch vụ công.
- Đối với hoạt động lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ) trong việc rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về doanh nghiệp công ích, cơ chế đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ công và chính sách xã hội hoá.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công như thế nào?
Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, được thành lập và hoạt động hợp pháp, đảm nhận chức năng sản xuất, cung ứng các sản phẩm, công việc phục vụ lợi ích chung thiết yếu của cộng đồng hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo chính sách, đặt hàng, giao kế hoạch hoặc đấu thầu của Nhà nước, trong đó mục tiêu phục vụ xã hội được đặt lên hàng đầu thay vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
2. Tiêu chuẩn nào để một doanh nghiệp công ích được xác định nhiệm vụ theo Nghị định số 56/CP?
Theo Nghị định số 56/CP được luận án viện dẫn, doanh nghiệp hoạt động công ích là doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng có ít nhất 70% doanh thu phát sinh từ các lĩnh vực được Nhà nước quy định (giao thông công chính, bảo dưỡng hạ tầng đường sắt, đường bộ, thuỷ lợi, sách báo chính trị, phim tài liệu, phục vụ hải đảo...).
3. Tại sao mô hình công ty hợp danh được tác giả đánh giá là phù hợp cho một số dịch vụ công quyền đặc thù?
Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Mô hình này đòi hỏi uy tín, trình độ chuyên môn cá nhân và tính chịu trách nhiệm cao nhất của người hành nghề, do đó rất phù hợp với các lĩnh vực dịch vụ công có tính chất công quyền như công chứng, kiểm toán, tư vấn pháp luật.
4. Bất cập lớn nhất của pháp luật hiện hành đối với loại hình doanh nghiệp này là gì?
Bất cập lớn nhất là hệ thống pháp luật chưa chuẩn hoá khái niệm hàng hoá, dịch vụ công; thiếu sự thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành; cơ chế định giá, đặt hàng, đấu thầu còn mang tính hành chính bao cấp; và chưa tạo được hành lang pháp lý bình đẳng, đồng bộ để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Vỹ là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm, vai trò và phân loại chi tiết các loại hình doanh nghiệp tham gia khu vực công ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phát hiện về hạn chế lập pháp cùng hệ thống giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế kinh tế và pháp luật doanh nghiệp ở nước ta.