Pháp Luật Về Doanh Nghiệp Cung Ứng Hàng Hóa và Dịch Vụ Công: Thực Trạng và Giải Pháp Hoàn Thiện

Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ công tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2013

162
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

2.1. DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

2.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

2.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI - BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM

3.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM

3.2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

3.3. ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM

4.1. NHỮNG YÊU CẦU THỰC TIỄN ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

4.2. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

4.3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Doanh Nghiệp Cung Ứng Dịch Vụ Công

Hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ công (HH, DVC) đóng vai trò then chốt trong mọi quốc gia. Ở Việt Nam, nó là yếu tố đảm bảo ổn định chính trị, phát triển bền vững và an toàn xã hội. Yêu cầu phát triển HH, DVC đòi hỏi sự đổi mới trong cách tiếp cận, tìm kiếm mô hình phù hợp, khoa học cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đại hội Đảng XI nhấn mạnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Vai trò của HH, DVC trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đảm bảo mục tiêu "dân giàu, nước mạnh; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh". Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp cung ứng HH, DVC, giải quyết những bất cập hiện tại và hoàn thiện khung pháp lý?

1.1. Tầm Quan Trọng của Hàng Hóa Dịch Vụ Công

Hàng hóa và dịch vụ công (HH, DVC) đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chúng là nền tảng cho sự ổn định chính trị, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Việc cung ứng hiệu quả HH, DVC không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Nhà nước cần có chính sách và pháp luật phù hợp để đảm bảo cung ứng đầy đủ và chất lượng HH, DVC cho toàn xã hội, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Theo Nguyễn Quang Vỹ, việc này cần được xem xét một cách toàn diện và có hệ thống, không thể xem nhẹ bất kỳ khía cạnh nào.

1.2. Vai Trò của Doanh Nghiệp trong Cung Ứng HH DVC

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng HH, DVC, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hóa và mở cửa thị trường. Các doanh nghiệp có thể tham gia cung ứng HH, DVC thông qua các hình thức khác nhau như đấu thầu, hợp đồng hoặc liên doanh liên kết. Sự tham gia của doanh nghiệp giúp tăng cường hiệu quả, nâng cao chất lượng và giảm chi phí cung ứng HH, DVC. Tuy nhiên, cần có cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ để đảm bảo các doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật và không lợi dụng việc cung ứng HH, DVC để trục lợi cá nhân. Luật Doanh nghiệp quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

II. Thực Trạng Pháp Lý Doanh Nghiệp Cung Ứng Hàng Hóa Công

Thời gian qua, hoạt động cung ứng HH, DVC đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Lĩnh vực này phát triển cả về số lượng và chất lượng. Để đảm bảo cơ sở pháp lý, Nghị định 56/CP năm 1996 quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của các DNNN hoạt động công ích. Luật DNNN 2003 tiếp tục phân biệt DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cần có một đạo luật thống nhất quy định các loại hình DN, đặc biệt là quy định rõ hơn về DN có sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (DVCI). Luật DN năm 2005 đã được ban hành, nhưng hệ thống pháp luật về HH, DVC vẫn còn nhiều hạn chế.

2.1. Lịch Sử Hình Thành Pháp Luật về Doanh Nghiệp Công

Pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ công đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Từ các quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, dần dần đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh. Nghị định 56/CP năm 1996 đánh dấu một bước quan trọng trong việc quy định về tổ chức và hoạt động của các DNNN hoạt động công ích. Luật DNNN 2003 tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thay thế các quy định trước đó và tạo ra một hệ thống pháp luật thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.

2.2. Bất Cập Hiện Tại của Pháp Luật

Hệ thống pháp luật về HH, DVC vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, chưa tạo ra được cơ chế giải quyết, đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu chính đáng và bức thiết. Nguyên nhân trực tiếp là do hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn còn nhiều vướng mắc. Chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp. Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt để khắc phục những bất cập này.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Cung Ứng Hàng Hóa Công

Để giải quyết những vướng mắc, cần đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN và xã hội hoá một số loại hình dịch vụ công cộng (DVCC). Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X cũng chỉ rõ cần thực hiện cơ chế tổ chức hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận tối đa và nhà nước không bao cấp bình quân. Đảng và Nhà nước đã ban hành các văn bản khuyến khích, định hướng cho hoạt động cung ứng HH, DVC.

3.1. Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Một Giải Pháp Hiệu Quả

Xã hội hóa dịch vụ công là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả và chất lượng cung ứng HH, DVC. Bằng cách thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế khác nhau, xã hội hóa giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng cường sự cạnh tranh và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, cần có cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ để đảm bảo xã hội hóa không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và không tạo ra các hình thức độc quyền mới. Pháp luật cần quy định rõ các tiêu chí, điều kiện và quy trình xã hội hóa dịch vụ công để đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

3.2. Tăng Cường Kiểm Tra Giám Sát Hoạt Động Doanh Nghiệp

Để đảm bảo việc cung ứng HH, DVC được thực hiện một cách hiệu quả và đúng pháp luật, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên, định kỳ và đột xuất. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong việc kiểm tra, giám sát. Các hành vi vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm minh, kịp thời để răn đe và phòng ngừa. Pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng HH, DVC.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Doanh Nghiệp Công Hiệu Quả

Nghiên cứu cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống lý luận và hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước về cung ứng HH, DVC. Luận án Tiến sỹ luật học "Pháp luật về DN cung ứng HH, DVC - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" sẽ góp phần nghiên cứu toàn diện những vấn đề pháp luật về tổ chức, hoạt động cũng như quyền và nghĩa vụ của loại hình DN cung ứng HH, DVC, đồng thời đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về loại hình DN này ở Việt Nam hiện nay.

4.1. Nghiên Cứu Mô Hình Doanh Nghiệp Công Tiên Tiến

Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình doanh nghiệp công tiên tiến trên thế giới là rất quan trọng. Cần tìm hiểu cách thức tổ chức, quản lý, điều hành và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp này. Đồng thời, cần đánh giá tính khả thi và phù hợp của các mô hình này với điều kiện thực tế của Việt Nam. Việc áp dụng các mô hình tiên tiến cần được thực hiện một cách thận trọng, có lộ trình và bước đi phù hợp. Cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và các nhà quản lý trong quá trình nghiên cứu và triển khai.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp Công

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp công là rất quan trọng để xác định những điểm mạnh, điểm yếu và những vấn đề cần cải thiện. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp, khách quan và minh bạch. Các tiêu chí đánh giá cần bao gồm cả các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Quá trình đánh giá cần được thực hiện một cách thường xuyên, định kỳ và công khai. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh chính sách, cải thiện hoạt động và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp công.

V. Kết Luận Hướng Tới Hoàn Thiện Pháp Luật Doanh Nghiệp

Luận án hướng đến làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động cung ứng HH, DVC và pháp luật về DN cung ứng. Mục tiêu là tìm ra những quy định bất cập của pháp luật hiện hành và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của DN cung ứng HH, DVC. Luận án sẽ tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận về HH, DVC và hoạt động cung ứng, sự cần thiết của hoạt động cung ứng trong nền kinh tế - xã hội, vai trò của nhà nước và cá nhân, tổ chức khác trong cung ứng và quản lý.

5.1. Tóm Tắt Những Đóng Góp Mới Của Luận Án

Luận án đóng góp vào việc xây dựng một số khái niệm khoa học pháp lý vào hệ thống lý luận cơ bản về HH, DVCDN cung ứng. Đồng thời, luận án đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam hiện nay, tìm ra những điểm bất cập, chưa phù hợp. Luận án cũng đề xuất phương hướng và những giải pháp làm cơ sở khoa học cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam hiện nay.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Doanh Nghiệp Công

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ cho hoạt động cung ứng HH, DVC ở Việt Nam. Cần nghiên cứu và đánh giá tác động của các chính sách và pháp luật hiện hành đối với hoạt động cung ứng HH, DVC. Đồng thời, cần đề xuất các giải pháp để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này để học hỏi kinh nghiệm và tiếp cận các mô hình tiên tiến trên thế giới.

VI. Phương Pháp Nghiên Cứu Áp Dụng Để Giải Quyết Vấn Đề

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể. Các phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

6.1. Kết Hợp Lý Luận và Thực Tiễn Trong Nghiên Cứu

Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn được sử dụng trong tất cả các Chương của luận án để xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lịch sử, lý luận, pháp lý với thực tiễn tổ chức thực hiện. Điều này có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt trong Chương 2, Chương 3 của luận án. Từ đó, phương pháp này cũng được sử dụng để xem xét, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam (Chương 4).

6.2. So Sánh Luật Học Kinh Nghiệm Quốc Tế

Phương pháp luật học so sánh chủ yếu được sử dụng tại Chương 2 của luận án. Cụ thể là được vận dụng trong việc tham khảo kinh nghiệm xây dựng, quy định các mô hình và thực hiện pháp luật về cung ứng HH, DVC ở các nước trên thế giới, rút ra những điểm chung, những khác biệt giữa các quốc gia. Ngoài ra, tại Chương 4 của luận án cũng sử dụng phương pháp này để so sánh và rút ra các bài học kinh nghiệm và kiến nghị cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC trong giai đoạn hiện nay.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài; Chương 2. Lý luận về DN cung ứng HH, DVC và pháp luật về DN cung ứng HH, DVC Chương 3. Thực trạng pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam; Chương 4.

Phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam. 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Những năm cuối thế kỷ XX, các quốc gia phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa đạt được những thành quả vượt bậc. Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến DN cung ứng HH, DVC trên thế giới từ lâu đã được quan tâm trong lịch sử phát triển xã hội.

Nó trở thành vấn đề được tranh luận sôi nổi khi nhu cầu phát triển quyền con người, nền dân chủ được đề cao gắn với mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; đề cao vai trò của pháp luật, tăng cường chức năng "phục vụ nhân dân", lấy tiêu chí "phục vụ" để đánh giá sứ mệnh của Nhà nước trước nhân dân. Cùng với xu hướng phát triển này, trên thế giới đã ra đời nhiều tác phẩm, công trình khoa học nghiên cứu nhu cầu thụ hưởng và cung ứng HH, DVC trong xã hội. Những công trình đó góp phần quan trọng vào sự đổi mới và phát triển nhận thức của thế giới về vai trò của Nhà nước trong phát triển xã hội, đặc biệt các vấn đề nâng cao nhận thức, đánh giá và tìm hướng đi cho sự phát triển cung ứng HH, DVC cho xã hội với quan điểm lấy con người làm trung tâm và là động lực của sự phát triển trên phạm vi toàn cầu.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ "cung cấp DVC" [31, tr.133] được đề cập đến trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX: ". tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số DVC với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường" [31, tr. Trên cơ sở chủ trương này, trong những năm gần đây, thuật ngữ HH, DVC và hoạt động cung ứng được đặt ra, nghiên cứu, tranh luận sôi nổi, có giai đoạn trở thành vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội.

- Kết quả của sự quan tâm, nghiên cứu đó được thể hiện qua nhiều hoạt động khoa học: tổ chức hội thảo, giảng dạy, xây dựng đề tài khoa học, viết giáo trình, sách, báo, tạp chí. ở nhiều không gian, thời gian khác nhau và đưa ra một số vấn đề chủ 13 yếu liên quan đến khái niệm, chủ thể, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, về xã hội hoá hoạt động cung ứng HH, DVC. Ở mức độ khác nhau, mỗi công trình khoa học trong lĩnh vực này phản ánh một khía cạnh khác nhau về cung ứng HH, DVC, như: - Quan niệm về HH, DVC; - Vấn đề cung ứng HH, DVC trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; - Về vai trò của nhà nước và các chủ thể trong cung ứng HH, DVC; - Trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng HH, DVC - Các mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới; - Xã hội hóa cung ứng HH, DVC; - Về phương thức cung ứng HH, DVC điển hình, thể hiện xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới; - Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cung ứng HH, DVC. Quan niệm về hàng hoá, dịch vụ công Một số tác phẩm tiêu biểu trên thế giới bàn về thuật ngữ HH, DVC như: - Theo "World book encyclopeadia - 1998", HH, DVC là việc Chính phủ bảo vệ lợi ích công cộng bằng việc cung ứng các hàng hoá (HH) và dịch vụ (DV) gọi chung là HH, DVC.

Ai cũng có lợi từ HH, DVC được cung ứng, và một số chủ thể không phải trả tiền cho các loại HH, DV đó. Nếu tham gia vào lĩnh vực này, các công ty (thuộc các thành phần kinh tế khác nhau) khó có thể tìm lợi nhuận (khi SX và cung ứng HH, DVC). Đây cũng là một lý do cơ bản mà HH, DVC thường được bảo vệ, duy trì và cung ứng bởi chính Nhà nước [43, tr. - "Khu vực công" là môi trường chủ yếu thực hiện hoạt động cung ứng HH, DVC cũng được nhiều tác giả nghiên cứu.

Theo "Public Administration", khu vực công là thuật ngữ được sử dụng từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945, một phần do sự mở rộng hoạt động của chính phủ, một phần khác, nó gắn liền với các hành vi xã hội cùng với hoạt động kinh tế - xã hội. Nó là định hướng để phân biệt nền kinh tế tự do gắn với lợi ích cá nhân, với DN tư nhân. Khu vực công đại diện và gắn với quyền lực nhà nước; thông qua đó có thể điều chỉnh hoạt động của các chủ 14 thể và tạo ra niềm tin chính trị phù hợp, xem hoạt động của tập thể hơn là cá nhân. Như vậy, khu vực công là một thuật ngữ dùng để phân biệt với thực thể kinh tế đã và đang tồn tại là khu vực tư.

Sự khác nhau cơ bản không chỉ là mục tiêu của hoạt động (vì tập thể) và cũng khác nhau cả về cung cách tổ chức và quản lý các hoạt động [109]. - Tác phẩm "Kinh tế học công cộng", đã nghiên cứu về HH, DV nói chung, trong đó có hàng hoá, dịch vụ công cộng (HH, DVCC), tác giả Joseph E.Stiglitz cho rằng: "HH, DVCC thuần tuý là loại hàng hoá, dịch vụ (HH, DV) có hai đặc tính quan trọng: thứ nhất, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; thứ hai, người ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần" [54, tr. Có thể nói, đây là dấu hiệu rất cơ bản của HH, DVC thuần tuý. Chúng có vai trò quan trọng liên quan mật thiết đến sự sống, sinh hoạt an toàn, ổn định và bình thường của con người như: HH, DV phục vụ vệ sinh môi trường, chiếu sáng đô thị, đắp đê phòng chống bão lụt.

Từ các quan niệm trên đây, có thể rút ra rằng: HH, DVC là những sản phẩm phục vụ xã hội có các đặc tính như: - Thường không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; - Người ta thường không muốn sử dụng nó theo khẩu phần; - Khó có thể tìm lợi nhuận khi SX, cung ứng; - Cung ứng và thụ hưởng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật; - Được bảo vệ, duy trì, đảm bảo cung ứng bởi Nhà nước. Ở Việt Nam, nhiều công trình, tài liệu. đã công bố khi bàn về các nội dung khác nhau về HH, DVC có đề cập đến quan niệm về HH, DVC làm cơ sở cho việc nghiên cứu: - Tác phầm "Cải cách DVC ở Việt Nam", nhà xuất bản (Nxb) Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003, PGS. Lê Chi Mai bàn luận và đưa ra khái niệm DVC; theo đó: DVC là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội [61, tr.

Theo cách quan niệm này, DVC có một số đặc điểm như: Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. 15 Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện. Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các DV này cho xã hội. Ngay cả khi nhà nước chuyển giao DV này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các DV này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.

Thứ tư, việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. Thứ năm, khi thực hiện cung ứng các DVC, các cơ quan nhà nước và các tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân. Thứ sáu, việc Nhà nước cung ứng DVC thường không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng DVC không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước.

Cũng có những DV mà người sử dụng phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các DV này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận [61, tr. Tuy nhiên, ở cách tiếp cận trên, cần lưu ý, đặc điểm Thứ tư cho rằng: "việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân" mới chỉ phản ánh một khía cạnh của mục đích, chức năng cung ứng DVC; trong khi đó về bản chất, mục đích của cung ứng DVC là để duy trì trật tự công, đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định, tiến bộ. của đời sống kinh tế - xã hội mà không bị hạn chế bởi "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của cộng đồng. Thực tế đã chứng minh có những loại DVC không thể hiện qua giao dịch để thực hiện "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của người dân nhưng nó vẫn luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội.

Việc thực hiện cung ứng các DVC "có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân". Trong khi đó, đời sống xã hội có những loại DVC điển hình, quan trọng, như: DV về quốc phòng, an ninh, chiếu sáng đô thị. dù không có giao dịch cụ thể nhưng mặc nhiên mọi người dân ở bất kỳ nơi đâu trên lãnh thổ quốc gia mà người đó mang quốc tịch, sinh sống đều được hưởng kết quả của loại hoạt động này. 16 - Tác phẩm "Thuật ngữ hành chính", Viện nghiên cứu Khoa học Hành chính, Học viện Hành chính, TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Pháp Luật Doanh Nghiệp Cung Ứng Hàng Hóa và Dịch Vụ Công: Thực Trạng và Giải Pháp Hoàn Thiện cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của pháp luật liên quan đến việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công tại Việt Nam. Tài liệu phân tích những thách thức mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình thực hiện các quy định pháp lý, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức cải thiện chất lượng dịch vụ công, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Sử dụng mô hình ipa đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp điện tại công ty điện lực tp cần thơ, nơi cung cấp phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ trong ngành điện lực. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ pháp luật doanh nghiệp pháp luật về mua bán doanh nghiệp watermark sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến mua bán doanh nghiệp, một khía cạnh quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật doanh nghiệp và dịch vụ công tại Việt Nam.