Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài; Chương 2. Lý luận về DN cung ứng HH, DVC và pháp luật về DN cung ứng HH, DVC Chương 3. Thực trạng pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam; Chương 4.
Phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam. 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Những năm cuối thế kỷ XX, các quốc gia phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa đạt được những thành quả vượt bậc. Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến DN cung ứng HH, DVC trên thế giới từ lâu đã được quan tâm trong lịch sử phát triển xã hội.
Nó trở thành vấn đề được tranh luận sôi nổi khi nhu cầu phát triển quyền con người, nền dân chủ được đề cao gắn với mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; đề cao vai trò của pháp luật, tăng cường chức năng "phục vụ nhân dân", lấy tiêu chí "phục vụ" để đánh giá sứ mệnh của Nhà nước trước nhân dân. Cùng với xu hướng phát triển này, trên thế giới đã ra đời nhiều tác phẩm, công trình khoa học nghiên cứu nhu cầu thụ hưởng và cung ứng HH, DVC trong xã hội. Những công trình đó góp phần quan trọng vào sự đổi mới và phát triển nhận thức của thế giới về vai trò của Nhà nước trong phát triển xã hội, đặc biệt các vấn đề nâng cao nhận thức, đánh giá và tìm hướng đi cho sự phát triển cung ứng HH, DVC cho xã hội với quan điểm lấy con người làm trung tâm và là động lực của sự phát triển trên phạm vi toàn cầu.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ "cung cấp DVC" [31, tr.133] được đề cập đến trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX: ". tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số DVC với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường" [31, tr. Trên cơ sở chủ trương này, trong những năm gần đây, thuật ngữ HH, DVC và hoạt động cung ứng được đặt ra, nghiên cứu, tranh luận sôi nổi, có giai đoạn trở thành vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội.
- Kết quả của sự quan tâm, nghiên cứu đó được thể hiện qua nhiều hoạt động khoa học: tổ chức hội thảo, giảng dạy, xây dựng đề tài khoa học, viết giáo trình, sách, báo, tạp chí. ở nhiều không gian, thời gian khác nhau và đưa ra một số vấn đề chủ 13 yếu liên quan đến khái niệm, chủ thể, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, về xã hội hoá hoạt động cung ứng HH, DVC. Ở mức độ khác nhau, mỗi công trình khoa học trong lĩnh vực này phản ánh một khía cạnh khác nhau về cung ứng HH, DVC, như: - Quan niệm về HH, DVC; - Vấn đề cung ứng HH, DVC trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; - Về vai trò của nhà nước và các chủ thể trong cung ứng HH, DVC; - Trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng HH, DVC - Các mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới; - Xã hội hóa cung ứng HH, DVC; - Về phương thức cung ứng HH, DVC điển hình, thể hiện xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới; - Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cung ứng HH, DVC. Quan niệm về hàng hoá, dịch vụ công Một số tác phẩm tiêu biểu trên thế giới bàn về thuật ngữ HH, DVC như: - Theo "World book encyclopeadia - 1998", HH, DVC là việc Chính phủ bảo vệ lợi ích công cộng bằng việc cung ứng các hàng hoá (HH) và dịch vụ (DV) gọi chung là HH, DVC.
Ai cũng có lợi từ HH, DVC được cung ứng, và một số chủ thể không phải trả tiền cho các loại HH, DV đó. Nếu tham gia vào lĩnh vực này, các công ty (thuộc các thành phần kinh tế khác nhau) khó có thể tìm lợi nhuận (khi SX và cung ứng HH, DVC). Đây cũng là một lý do cơ bản mà HH, DVC thường được bảo vệ, duy trì và cung ứng bởi chính Nhà nước [43, tr. - "Khu vực công" là môi trường chủ yếu thực hiện hoạt động cung ứng HH, DVC cũng được nhiều tác giả nghiên cứu.
Theo "Public Administration", khu vực công là thuật ngữ được sử dụng từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945, một phần do sự mở rộng hoạt động của chính phủ, một phần khác, nó gắn liền với các hành vi xã hội cùng với hoạt động kinh tế - xã hội. Nó là định hướng để phân biệt nền kinh tế tự do gắn với lợi ích cá nhân, với DN tư nhân. Khu vực công đại diện và gắn với quyền lực nhà nước; thông qua đó có thể điều chỉnh hoạt động của các chủ 14 thể và tạo ra niềm tin chính trị phù hợp, xem hoạt động của tập thể hơn là cá nhân. Như vậy, khu vực công là một thuật ngữ dùng để phân biệt với thực thể kinh tế đã và đang tồn tại là khu vực tư.
Sự khác nhau cơ bản không chỉ là mục tiêu của hoạt động (vì tập thể) và cũng khác nhau cả về cung cách tổ chức và quản lý các hoạt động [109]. - Tác phẩm "Kinh tế học công cộng", đã nghiên cứu về HH, DV nói chung, trong đó có hàng hoá, dịch vụ công cộng (HH, DVCC), tác giả Joseph E.Stiglitz cho rằng: "HH, DVCC thuần tuý là loại hàng hoá, dịch vụ (HH, DV) có hai đặc tính quan trọng: thứ nhất, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; thứ hai, người ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần" [54, tr. Có thể nói, đây là dấu hiệu rất cơ bản của HH, DVC thuần tuý. Chúng có vai trò quan trọng liên quan mật thiết đến sự sống, sinh hoạt an toàn, ổn định và bình thường của con người như: HH, DV phục vụ vệ sinh môi trường, chiếu sáng đô thị, đắp đê phòng chống bão lụt.
Từ các quan niệm trên đây, có thể rút ra rằng: HH, DVC là những sản phẩm phục vụ xã hội có các đặc tính như: - Thường không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; - Người ta thường không muốn sử dụng nó theo khẩu phần; - Khó có thể tìm lợi nhuận khi SX, cung ứng; - Cung ứng và thụ hưởng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật; - Được bảo vệ, duy trì, đảm bảo cung ứng bởi Nhà nước. Ở Việt Nam, nhiều công trình, tài liệu. đã công bố khi bàn về các nội dung khác nhau về HH, DVC có đề cập đến quan niệm về HH, DVC làm cơ sở cho việc nghiên cứu: - Tác phầm "Cải cách DVC ở Việt Nam", nhà xuất bản (Nxb) Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003, PGS. Lê Chi Mai bàn luận và đưa ra khái niệm DVC; theo đó: DVC là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội [61, tr.
Theo cách quan niệm này, DVC có một số đặc điểm như: Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. 15 Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện. Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các DV này cho xã hội. Ngay cả khi nhà nước chuyển giao DV này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các DV này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.
Thứ tư, việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. Thứ năm, khi thực hiện cung ứng các DVC, các cơ quan nhà nước và các tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân. Thứ sáu, việc Nhà nước cung ứng DVC thường không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng DVC không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước.
Cũng có những DV mà người sử dụng phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các DV này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận [61, tr. Tuy nhiên, ở cách tiếp cận trên, cần lưu ý, đặc điểm Thứ tư cho rằng: "việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân" mới chỉ phản ánh một khía cạnh của mục đích, chức năng cung ứng DVC; trong khi đó về bản chất, mục đích của cung ứng DVC là để duy trì trật tự công, đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định, tiến bộ. của đời sống kinh tế - xã hội mà không bị hạn chế bởi "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của cộng đồng. Thực tế đã chứng minh có những loại DVC không thể hiện qua giao dịch để thực hiện "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của người dân nhưng nó vẫn luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội.
Việc thực hiện cung ứng các DVC "có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức và công dân". Trong khi đó, đời sống xã hội có những loại DVC điển hình, quan trọng, như: DV về quốc phòng, an ninh, chiếu sáng đô thị. dù không có giao dịch cụ thể nhưng mặc nhiên mọi người dân ở bất kỳ nơi đâu trên lãnh thổ quốc gia mà người đó mang quốc tịch, sinh sống đều được hưởng kết quả của loại hoạt động này. 16 - Tác phẩm "Thuật ngữ hành chính", Viện nghiên cứu Khoa học Hành chính, Học viện Hành chính, TS.