CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU - Động đất là một hiện tượng thiên nhiên gây ra thiệt hại rất lớn cho người và tài sản. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đáng kể nhưng vẫn chưa thể dự đoán được chính xác được thời điểm và địa điểm xảy ra. Do đó vẫn chưa có biện pháp phòng ngừa chủ động khi động đất xảy ra. - Phân tích tĩnh phi tuyến (phân tích đẩy dần) đã được phát triển trong nhiều năm qua và đã trở thành một quy trình phân tích được sử dụng phổ biến trong thiết kế và đánh giá động đất.
Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về các phương pháp phân tích của các tác giả đã được công bố : phương pháp phổ khả năng-CSM Capacity Spectrum Metho ) được trình bày trong ATC-40 (Applied Technology Council, 1996) [1], phương pháp hệ số chuyển vị-DCM (Displacement Coefficient Method) được trình bày trong FEMA-356 (Federal Emergency Management Agency) [2] và phương pháp phân tích đẩy dần MPA (Modal Pushover Analysis) [3], [4] Chopra và Goel đề xuất. - Các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào sự phá hoại của công trình mà chưa kể đến ứng xử của đất nền khi chịu tác trọng của tải trọng (soil-structure interaction, viết tắt là SSI). Thực tế, kết cấu bên trên và đất nền bên dưới sẽ làm việc đồng thời và có sự tương tác giữa đất nền và kết cấu có xu hướng kéo dài chu kỳ dao động tự nhiên của hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến nội lực cũng như chuyển vị của kết cấu. Hình ảnh một số trận động đất trên thế giới 4 Hình 1.1 Hình ảnh trận động đất gây ra sóng thần ở Nhật Bản ngày 11/3/2011 Trận động đất 8,5 độ Richter gây nên sóng thần ở Nhật Bản đã làm 15.884 người thiệt mạng, 6.148 người bị thương và 2.633 người mất tích, 127.290 ngôi nhà bị tàn phá .2 Hình ảnh khói bốc lên từ các tòa nhà đỗ sập trong trận động đất KoBe ở Nhật Bản năm 1995 Trận động đất 6,8 độ Richter xảy ra ở phía nam tỉnh Hyogo, Nhật Bản, gây tàn phá trên diện rộng và cướp sinh mạng của ít nhất 6.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.
Chopra và Goel(2002) [3] , [4] đã phát triển một quy trình phân tích đẩy dần được gọi là phương pháp phân tích đẩy dần MPA dựa trên thuyết động lực học công trình. Đầu tiên, quy trình được áp dụng cho các công trình đàn hồi tuyến tính giống như quy trình phân tích phổ phản ứng. Sau đó, quy trình được mở rộng để ước tính tác động của động đất lên kết cấu không đàn hồi bằng việc giả định và xấp xỉ những điều kiện ban đầu. Tác động của động đất lên khung 9 tầng trong dự án SAC do Chopra và Goel nghiên cứu được xác định bằng phương pháp MPA , phân tích động và phân tích đẩy dần dùng mô hình tải phân phối đều và theo dạng dao động.
Kết quả phương pháp MPA có độ chính xác tương đương với phân tích động về ước tính chuyển vị tầng, độ 5 trôi tầng, góc xoay chảy dẻo và vị trí xuất hiện khớp dẻo. Kết quả của MPA cũng phụ thuộc nhiều vào cường độ của trận động đất. An Hong Nguyen, Chatpan Chintanapakdee, and Toshiro Hayashikawa (2010) [5] Dùng phương pháp tĩnh phi tuyến (NSPs) để dự đoán các yêu cầu địa chấn trong thiết kế và sự đánh giá các tòa nhà. Kiểm tra tương đối sự dịch chuyển và độ chính xác của mô hình.
Các dự đoán NPS được so sánh với kết quả từ NL-RHA về chuyển vị mục tiêu, chuyển vi mái và độ trôi tầng. Chintanapakdee và Chopra (2003) [6] đánh giá độ chính xác của phương pháp MPA cho các công trình chịu động đất trong dự án SAC. Hệ khung 1 nhịp 3, 6, 9, 12, 15 và 18 tầng với 5 hệ số tương ứng với độ dai của hệ một bậc tự do SDOF là 1, 1. Mỗi khung chịu 20 trận động đất từ dữ liệu động đất ở California.
Giá trị trung bình độ trồi tầng từ MPA và phân tích động được tính toán và so sánh với nhau. Nếu xét ảnh hưởng của những dạng dao động cao hơn (2 hay 3 dạng dao động) thì MPA dự đoán khá chính xác với phân tích động phi tuyến. Sai lệch và phân tán của MPA trong dự đoán tác động của động đất gia tăng đối với những hệ khung có chu kỳ dài hơn và độ dẻo của hệ SDOF lớn hơn. Điều này được thể hiện khi sai lệch và độ phân tán của hệ khung không đàn hồi lớn hơn khung đàn hồi.
Vardanega (1980) [7] phân tích phản ứng của hệ kết cấu khi xét đến tương tác giữa đất nền và kết cấu vào mô hình tính toán. Tác giả có những kết luận như sau: ảnh hưởng chính của tương tác giữa đất nền và kết cấu là làm gia tăng chu kì dao động tự nhiên của hệ kết cấu, tăng sức cản hiệu quả do sự hao hụt năng lượng khi lan truyền và thay đổi ứng xử do sự xuất hiện của những góc xoay tại chân công trình. Các bảng I, II, III chỉ ra kết quả của các mô hình 5 tầng, 10 tầng, 15 tầng riêng biệt : Bảng 1. Kết quả của mô hình 5 tầng theo Vardanega [6].
Liên kết Đất nền loại Đất nền loại Đất nền loại cứng 1 2 3 Chu kỳ dao động tự nhiên 0.23 Hệ số cản 0.054 Chuyển vị đỉnh 0.037 Chuyển vị gốc 0 0. Kết quả của mô hình 10 tầng theo Vardanega [6]. Liên kết Đất nền loại Đất nền loại Đất nền loại cứng 1 2 3 Chu kỳ dao động tự nhiên 0.63 Hệ số cản 0.051 Chuyển vị đỉnh 0.22 Chuyển vị gốc 0 0.001 Lực cắt đáy (kips) 565 375 507 555 Momen chân cột ( kp x ft ) 34000 20000 30000 31000 Bảng 1. Kết quả của mô hình 15 tầng theo Vardanega [6].
Liên kết Đất nền loại Đất nền loại Đất nền loại cứng 1 2 3 Chu kỳ dao động tự nhiên 1.37 Hệ số cản 0.05 Chuyển vị đỉnh 0.574 Chuyển vị gốc 0 0.001 Lực cắt đáy (kips) 485 699 588 Momen chân cột ( kp x ft ) 26000 55000 44000 Kết quả cho thấy rằng độ gia tăng chu kì dao động cơ bản của công trình là rất lớn đối với tòa nhà 5 tầng trên nền đất yếu (loại 1), hệ số gia tăng vào khoảng 3 lần. Ảnh hưởng này sẽ giảm dần khi chiều cao công trình tăng lên và khi độ cứng của đất nền tăng lên. Đây là một điều đáng quan tâm. Tuy nhiên, ảnh hưởng này vẫn còn đáng kể đối với tòa nhà 15 tầng trên loại đất số 3.
Quá trình tăng sức cản do sự lan truyền rất nhỏ trong mọi trường hợp do kích thước của chân móng. Sự thay đổi nội lực dường như là thất thường và không có một phương hướng rõ ràng. Đối với tòa nhà 15 tầng thì chu kì dao động cơ bản trên loại đất số 2 và loại đất số 3 bằng nhau nhưng vẫn có một chút khác biệt. Đó là chu kì dao động của dạng dao động thứ 2.
Stewart và các cộng sự[8] chỉ ra rằng có một sự tương quan cao giữa việc tăng tỷ số chu kì dao động của kết cấu Tssi/ T và tỷ số độ cứng của kết cấu / đất nền. Trong đó : Tssi và T : chu kì dao động của kết cấu khi có xét và không xét SSI. Những ảnh hưởng do tương tác đặc trưng giữa đất nền và kết cấu sẽ đáng kể khi tỷ số độ cứng 1/6 vào khoảng 0. Khi đó, tỷ số chu kì dao động của kết cấu bằng khoảng 1.
Đặc biệt, có trường hợp tỷ số độ cứng 1/ϭ bằng 1.5 sẽ làm tăng tỷ số chu kì lên 4. Một thống kê chung cho thấy khi kết cấu bên trên cứng và đất nền yếu thì ảnh hưởng do tương tác giữa đất nền và kết cấu sẽ đặc biệt quan trọng. Mặt khác, nếu chu kì của kết cấu tăng và độ cứng của đất nền phía dưới tăng thì quá trình tương tác giữa đất nền và kết cấu sẽ giảm phần quan trọng. Ahmed và Hamdy[9] chọn lọc những ảnh hưởng do tương tác giữa đất nền và kết cấu đến công trình chịu những sự rung chuyển mạnh của mặt đất nhằm kiểm soát được sự phá hoại và tăng mức độ an toàn cho công trình.
Tác giả sử dụng quá trình phân tích tải trọng lặp bằng cách sử dụng phần mềm SAP2000 và chỉ ra kết quả theo những phân tích lược sử thời gian của mô hình công trình gồm cả kết cấu bên trên, kết cấu móng và đất nền khi chịu tải trọng động đất khá lớn. Kết quả cho thấy rằng nếu xem xét quá trình tương tác giữa đất nền và kết cấu sẽ cho những ảnh hưởng bất lợi đối với hình dáng biến dạng của công trình và chuyển vị đỉnh của công trình sẽ tăng lên. Mặt khác, tương tác giữa đất nền và kết cấu sẽ làm giảm nội lực của các kết cấu bên trên khi so sánh với mô hình công trình có chân được ngàm. Foundations Kx Kx Foundations Cx Cx Cy Ky Cz Kz Plan Elavation Hình 1.3 Mô hình nút tương tác đặc trưng giữa đất nền và kết cấu.4 Bảng xác định giá trị độ cứng và hệ số cản [8].
Phương Độ cứng Hệ số cản Khối lượng Đứng Ngang Nếu kể đến quá trình tương tác giữa đất nền và kết cấu trong mô hình phân tích thì kết quả về chuyển vị đỉnh của công trình sẽ tăng lên. Điều này phụ thuộc phần lớn vào chiều cao công trình. Công trình thấp thì sẽ có tỷ lệ chênh lệch chuyển vị đỉnh nhiều nhất khi so sánh giữa mô hình có xét đến SSI và không xét đến SSI. Mô hình không xét đến SSI sẽ cho ra tần số đặc trưng cao.
Tuy nhiên, tần số dao động cơ bản sẽ giảm đi ứng với mô hình có xét đến SSI và công trình được đặt trên đất nền có độ cứng không cao. Quá trình tương tác giữa đất nền và kết cấu cũng xảy ra khi đất phản ứng lại các vùng có tường hầm chịu lực xung quanh công trình. Điều đó chứng minh được khả năng và ảnh hưởng của tường hầm trong việc điều khiển và giảm chuyển vị đỉnh lớn nhất của công trình và cải thiện tốt hơn hình dáng biến dạng của công trình khi chịu động đất. Quá trình tương tác giữa đất nền và kết cấu làm giảm lực cắt ở chân cột từ 70% đến 30% cho công trình từ cao đến thấp khi so sánh với mô hình chân ngàm cổ điển.