Chương 1: Chế độ bảo hộ đầu tư nước ngoài trước các biện pháp truất hữu trong luật quốc tế và các phương pháp phổ biến xác định thiệt hại của nhà đầu tư; và Chương 2: Vụ kiện giữa các cổ đông Yukos và Liên Bang Nga. CHẾ ĐỘ BẢO HỘ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRƯỚC CÁC BIỆN PHÁP TRUẤT HỮU TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHỔ BIẾN XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 1. Cơ chế bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài 1. Khái quát về cơ chế bảo hộ đầu tư nước ngoài trong luật quốc tế Trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX, những thay đổi lớn đã xảy ra trong các chính sách và cơ cấu pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài.6 Những năm 1980-1990, chủ nghĩa thực dụng mới ra đời khi các nước chủ nhà nhận ra đầu tư nước ngoài là một công cụ quan trọng để phát triển kinh tế.
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài đã khiến hầu hết các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển hoặc đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, áp dụng hàng loạt các chính sách nhằm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi. Một phần quan trọng của các chính sách này là những biện pháp bảo đảm các chế độ không phân biệt đối xử (giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau) và chế độ bảo hộ khoản đầu tư hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài các cam kết chung cho tất cả nhà đầu tư (không phân biệt quốc tịch) trong pháp luật nội địa, các nước tiếp nhận đầu tư cũng có những đảm bảo pháp lý quốc tế cho các nhà đầu tư đến từ quốc gia khác.7 Việc đưa ra các cam kết quốc tế bởi nhà nước tiếp nhận đầu tư là một đảm bảo quan trọng trong cơ chế bảo hộ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài khi phát sinh tranh chấp với nhà nước, vì nhà nước sẽ phải từ bỏ quyền miễn trừ và buộc phải chấp nhận giải quyết vấn đề tại cơ quan tài phán quốc tế (không phụ thuộc vào quy định của luật quốc gia và hệ thống tài phán của mình). Chế độ bảo hộ đầu tư nước ngoài – hay được biết tới dưới thuật ngữ “chế độ bảo hộ đầu tư” trong luật đầu tư quốc tế, là một phần thiết yếu của các điều ước quốc tế về xúc tiến đầu tư và các hiệp định tự do thương mại khu vực.
Mặc dù trên thực tế các điều ước quốc tề hầu như không định nghĩa minh thị về “chế độ bảo hộ đầu tư”, các học giả pháp lý nhìn nhận cách hiểu cơ chế bảo hộ đầu tư bao gồm các điều khoản 6 Nathalie Bernasconi-Osterwalder (2003), International Legal Framework on Foreign Investment, Fifth Ministerial Conference “Environment for Europe”, Side event: Corporate responsibility: Governance principles for foreign direct investment in hazardous activities, tr.2 7 Christoph Schreuer (2013), Investments, International Protection, Oxford Public Internation Law, tr.1,2 5 nhằm bảo vệ nhà đầu tư trước những hành vi can thiệp bất lợi của chính phủ nước chủ nhà.8 Đối với các nước phát triển, chủ yếu ở vị trí quốc gia chuyên xuất khẩu vốn, cơ chế bảo hộ đầu tư vai trò quan trọng trong chiến lược đầu tư quốc tế. Các quốc gia xuất khẩu đầu tư như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý quốc tế cho cơ chế bảo hộ đầu tư thông qua việc buộc các quốc gia đối tác phải ký kết các hiệp định bảo hộ đầu tư, hiệp định xúc tiến đầu tư song phương (BIT) và gần đây là trong khuôn khổ chương đầu tư của các hiệp định tự do thương mại khu vực. Cơ chế bảo hộ đầu tư trong các điều ước quốc tế này đều hướng tới các ba mục tiêu quan trọng sau:. - Thứ nhất, để bảo vệ tài sản vật chất của nhà đầu tư [nước mình] tại nước tiếp nhận đầu tư trước các thay đổi chính sách, luật hay biện pháp hành chính của nhà nước tiếp nhận đầu tư; - Thứ hai, để mở rộng việc bảo vệ các quyền tài sản hữu hình và vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, giá trị thương hiệu,…) được hình thành trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại quốc gia tiếp nhận đầu tư; và - Thứ ba, để đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quyền hành chính cần thiết cho hoạt động của dự án đầu tư.9 Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư, thường là các nước đang phát triển, việc chấp nhận tham gia vào các điều ước quốc tế về đầu tư là thiết yếu mặc dù biết rằng nó sẽ hạn chế chủ quyền kinh tế quốc gia.
Sự tồn tại một cam kết quốc tế về một cơ chế bảo hộ đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc liệu nhà đầu nước ngoài có lựa chọn quốc gia cụ thể để đầu tư hay không, từ đó hỗ trợ gia tăng nguồn vốn đầu tư, góp phần phát triển kinh tế nhanh chóng.10 Nền tảng của cơ chế bảo hộ đầu tư là các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế như: nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc “chuẩn đối xử tối thiểu”, biện pháp giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với nước tiếp nhận đầu tư (ISDS), nguyên tắc bảo vệ tài sản nhà đầu tư,…Dựa trên những điểm tương đồng trong nội dung của các nguyên tắc, cơ chế bảo hộ đầu tư có thể chia thành hai nhóm, bao gồm: 8 Nathalie Bernasconi-Osterwalder, tlđd (6), tr. Sornarajah (2010), The International Law on Foreign Investment,Cambridge University Press, tr.16, Trần Việt Dũng, tlđd (3), Trần Việt Dũng, tlđd (5), Christoph Schreuer, tlđd (7), tr.16 10 Nathalie Bernasconi-Osterwalder, tlđd (6), tr.3 6 - Thứ nhất, nhóm các điều khoản tự do hóa đầu tư, bao gồm (i) điều khoản về không phân biệt đối xử: quy tắc đối xử tối huệ quốc, quy tắc đối xử quốc gia, quy tắc đối xử tối thiểu; và (ii) điều khoản liên quan tới “các yêu cầu hoạt động”; và - Thứ hai, nhóm các điều khoản nhằm đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư. Trong mỗi hiệp định, dựa trên mức độ thỏa thuận các bên đạt được, các điều khoản này sẽ dành cho nhà đầu tư của các bên tham gia ký kết những bảo đảm nhất định, được thể hiện qua các điều khoản sau: (i) điều khoản bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư ra nước ngoài; (ii) điều khoản liên quan tới “nhân sự quản lý cao cấp và ban lãnh đạo”; (iii) điều khoản bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật; (iv) điều khoản bảo vệ tài sản của nhà đầu tư trước các biện pháp truất hữu, quốc hữu hóa; (v) điều khoản giải quyết tranh chấp đầu tư;. Nguyên tắc bảo vệ tài sản của nhà đầu tư trước các biện pháp tịch thu, cưỡng chế, quốc hữu hóa Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, đa số các khoản đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bởi các thoả thuận riêng giữa nước chủ nhà với nhà đầu tư.
Những thỏa thuận này dành rất nhiều quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài và để lại cho nước chủ nhà quyền kiểm soát rất hạn chế đối với các hoạt động của nhà đầu tư. 12 Các nước có sức mạnh bá chủ, mà đứng đầu là Mỹ đã đòi hỏi sự bảo hộ tuyệt đối cho tài sản của nhà đầu tư mang quốc tịch Mỹ. Tuy nhiên, cơ chế bảo hộ tuyệt đối này đã vấp phải sự phản đối của các nước chủ nhà do những lo ngại về việc thu hẹp chủ quyền quốc gia trong quá trình nhận vốn đầu tư nước ngoài.13 Đến những năm 1980, sự gia tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài đã khiến nhu cầu hình thành khuôn khổ pháp lý quốc tế về lĩnh vực đầu tư trở nên cấp thiết.14 Nhằm đạt được thỏa thuận ký kết các IIA, nguyên tắc bảo vệ tài sản của nhà đầu tư vẫn được ghi nhận nhưng không còn mang tính chất tuyệt đối như trước mà dành nhiều ngoại lệ liên quan đến lợi ích công cộng và an ninh quốc gia. Về mặt lý luận, theo nguyên tắc này, quốc gia tiếp nhận đầu tư đảm bảo không tiến hành tịch thu, cưỡng chế hay quốc hữu hóa – gọi chung là thực hiện hành vi truất hữu – đối với các khoản đầu tư, tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nguyên tắc này có thể được tìm thấy trong hệ thống pháp luật riêng của mỗi quốc gia. Tại Ai Cập, Điều 34 của Hiến pháp năm 1971 quy định: 11 A. Fatouros (1963), Government guarantees to foreign investors, Columbia University Press, tr.151 12 Christoph Schreuer, tlđd (7), tr. Sornarajah, tlđd (9), tr.
372 14 Nathalie Bernasconi-Osterwalder, tlđd (6), tr.2 7 “Quyền sở hữu tư nhân được bảo vệ và không bị tịch thu trừ những trường hợp được quy định trong luật pháp và theo lệnh của tòa án. Quyền sở hữu không thể bị tước đoạt ngoại trừ trường hợp vì lợi ích công cộng và được bồi thường công bằng theo pháp luật [.” Điều 35 Hiến pháp năm 1971 cũng cung cấp sự bảo hộ tương tự chống lại việc quốc hữu hóa. Vào năm 2012, hai điều khoản này đã được thay thế bằng Điều 6 của Tuyên bố Hiến pháp và Điều 24 của Hiến pháp năm 2012, trong đó nêu lại chính xác nguyên tắc trên. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư (Điều 8) và Luật Các Khu vực kinh tế của Ai Cập năm 2002 cũng bao gồm những điều khoản bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài chống lại việc quốc hữu hóa và truất hữu.15 Tại Việt Nam, khoản 3 Điều 51 Hiến pháp 2013 quy định: “[…] Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.” Bên cạnh đó, Điều 9 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 đã cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ tài sản nhà đầu tư nước ngoài: “Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.” Nhưng theo tập quán quốc tế, hành vi truất hữu của quốc gia không bị cấm hoặc bị coi là sự vi phạm luật quốc tế, vì chúng được bảo đảm bởi nguyên tắc chủ quyền quốc gia.16 Các nước chủ nhà có quyền điều phối các tài sản và hoạt động kinh tế trên lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị – kinh tế.
Do đó, các IIA vẫn cho phép nước chủ nhà có thể tước quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài vì mục đích công cộng hoặc trong một số trường hợp đặc biệt. Nhưng đồng thời, trách nhiệm bồi thường của nhà nước sẽ luôn phát sinh khi tồn tại hành vi truất hữu.