MỞ ĐẦU Hiện nay, do tính cấp thiết về nhu cầu năng lượng nên nhiên liệu hạt nhân đang ngày càng trở nên quan trọng vì những ưu điểm: lượng nhiên liệu tiêu hao ít, có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng của con người trong vài trăm đến hàng ngàn năm tùy theo công nghệ và nhiên liệu sử dụng. Với kỹ thuật an toàn hiện nay của các lò phản ứng hạt nhân thế hệ III và III+ kiểu nước nhẹ áp lực (PWR – Pressurized Water Reactor), cơ chế an toàn luôn đảm bảo lò được dập kịp thời khi sự cố xảy ra. Tuy nhiên, khi phản ứng phân hạch dây chuyền được dập thì sản phẩm sau phân hạch vẫn tiếp tục phân rã theo phóng xạ chuỗi, tỏa năng lượng làm cho lò phản ứng tiếp tục bị nóng lên và gây tai nạn nếu lò không liên tục được làm mát kịp thời. Điều này cho thấy rằng nhiên liệu sau phân hạch (nhiên liệu thải) chứa đựng nguy cơ gây tai nạn nếu nó không được xử lý và bảo quản đúng cách, đặc biệt là các thanh nhiên liệu vừa được lấy ra từ lò sau mỗi chu kì hoạt động (có chứa các chất phóng xạ hoạt độ cao).
Các thanh nhiên liệu lấy ra khỏi lò phản ứng được đưa vào bể chứa nhiên liệu thải (SFP – Spent Fuel Pool) để che chắn phóng xạ và làm mát trong một thời gian dài trước khi được đưa đi lưu trữ, xử lý trong các giai đoạn tiếp theo. Phần mềm PCTRAN/ SFP (Personal Computer Transient Analyzer/ Spent Fuel Pool) phiên bản 1.1 mô phỏng bể chứa nhiên liệu thải của lò phản ứng nước nhẹ áp lực. Phần mềm này được cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA – International Atomic Energy Agency) đặt hãng Micro Simulation Technology viết nhằm mục đích mô phỏng hoạt động và các sự cố có thể xảy ra đối với bể chứa nhiên liệu thải của các nhà máy điện hạt nhân nước nhẹ áp lực (PWR). Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tập trung giải quyết các vấn đề sau: - Tìm hiểu về chu trình nhiên liệu hạt nhân và phân tích thành phần, thuộc tính của nhiên liệu đã qua sử dụng (nhiên liệu thải).
- Tìm hiểu cấu trúc và cơ chế hoạt động của bể chứa nhiên liệu thải (SFP) - Tìm hiểu cách sử dụng phần mềm PCTRAN/ SFP, theo dõi hoạt động của bể khi thay đổi lưu lượng nước vòng tuần hoàn thứ cấp của bộ trao đổi nhiệt và mô phỏng sự cố bể chứa nhiên liệu thải mất điện (Loss of AC Power). - Vẽ đồ thị và phân tích kết quả mô phỏng thu được. 5 - Vận dụng lý thuyết để giải thích kết quả mô phỏng sự cố mất điện bể chứa nhiên liệu thải. Nhận xét mức độ ảnh hưởng của sự cố mất điện bể chứa nhiên liệu thải đến sức khỏe con người và môi trường, liên hệ với sự cố mất điện tại bể chứa nhiên liệu thải số 4, nhà máy điện hạt nhân Fukushima – Nhật Bản năm 2011.
Hai nhà máy điện hạt nhân loại PWR đang được xây dựng ở Ninh Thuận. Do đó, việc đào tạo nhân lực điện hạt nhân là vấn đề cấp thiết. Một số trường (trong đó có đại học Khoa Học Tự Nhiên) chuẩn bị mở chuyên ngành đào tạo về điện hạt nhân. Trong bối cảnh đào tạo nhân lực cho điện hạt nhân còn thiếu điều kiện thực tiễn (chỉ có 1 lò nghiên cứu ở Đà Lạt) và các sự cố trong điện hạt nhân không thể thí nghiệm thực tế nên việc tìm hiểu, sử dụng các phần mềm mô phỏng điện hạt nhân có độ tin cậy cao để đưa vào giảng dạy là hết sức cần thiết.
Đề tài này bước đầu tìm hiểu về việc xử lý nhiên liệu qua sử dụng và sử dụng phần mềm PCTRAN/ SFP mô phỏng sự cố SFP nhằm góp phần làm tài liệu cho công tác tìm hiểu, giảng dạy và đào tạo nhân lực điện hạt nhân ở Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ CHU TRÌNH NHIÊN LIỆU VÀ BỂ CHỨA NHIÊN LIỆU THẢI CHO NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN 1. Chu trình nhiên liệu của nhà máy điện hạt nhân 1. Tổng quan chu trình nhiên liệu 1.
Nhiên liệu hạt nhân: Hầu như toàn bộ nhiên liệu được sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân thương mại được sử dụng đều ở dạng rắn. Nhiên liệu hạt nhân sử dụng trong các lò phản ứng nước nhẹ là bột UO2 được đóng thành viên hình trụ (pellet). Các viên nhiên liệu này cao khoảng 0,4 đến 0,65 inch (từ 1 đến 1,65 cm) và có đường kính khoảng 0,3 đến 0,5 inch (0,8 đến 1,25 cm) được nạp vào các ống làm bằng Zicaloy (hợp kim Zirconi) tạo thành các thanh nhiên liệu. Các thanh nhiên liệu được đóng gói chung với nhau tạo thành bó nhiên liệu.
Các bó nhiên liệu có cạnh khoảng 6 đến 9 inch (15 – 23 cm). Giữa các thanh nhiên liệu cách nhau 0,12 đến 0,18 inch (0,3 đến 0,45 cm) để nước làm mát có thể chảy qua. Các bó nhiên liệu của lò phản ứng nước sôi (PWR) chứa từ 49 đến 63 thanh nhiên liệu. Còn đối với lò nước áp lực (PWR), số thanh nhiên liệu được sử dụng trong một bó từ 164 đến 264.
Tùy thuộc vào thiết kế của mỗi lò phản ứng, các lò thường sử dụng khoảng 190 đến 750 bó nhiên liệu, mỗi bó nặng khoảng 275 đến 685 kg được đặt trong lõi lò phản ứng. Các thanh nhiên liệu lúc này rất an toàn, chúng không cần được làm mát hoặc che chắn phóng xạ mà có thể được vận chuyển dễ dàng. Lựa chọn chu trình nhiên liệu hạt nhân Theo Hệ thống thông tin về chu trình nhiên liệu hạt nhân (NFCIS – Nuclear Fuel Cycle Information System): chu trình nhiên liệu hạt nhân là tập hợp các quy trình và các hoạt động cần thiết để sản xuất nhiên liệu hạt nhân, phân hạch trong lò phản ứng, lưu trữ, tái chế và xử lý nhiên liệu thải. Chu trình nhiên liệu hạt nhân được sử dụng tùy thuộc vào loại lò phản ứng, nhiên liệu sử dụng và có tái chế nhiên liệu hay không.
Sơ đồ đơn giản về các loại chu trình nhiên liệu [10] Hình 1. Lưu đồ chu trình nhiên liệu hạt nhân điển hình [10] Có hai loại chu trình nhiên liệu: Chu trình nhiên liệu hạt nhân mở (nhiên liệu hạt nhân không được tái chế) và chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín (tái sử dụng các vật liệu hạt nhân chiết suất từ các bó nhiên liệu thải). 8 Việc lựa chọn chu trình nhiên liệu hạt nhân mở hay khép kín phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia.1 trình bày sơ đồ đơn giản chu trình nhiên liệu hạt nhân và hình 1.2 trình bày chi tiết chu trình nhiên liệu mở và khép kín. Ngoài những dạng chu trình điển hình trên cũng đã và đang có những nghiên cứu về các chu trình nhiên liệu khác: GNEP, DUPIC, ADS, P&T… [10].
Tất cả các nghiên cứu này đều nhằm mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và giảm lượng chất thải phóng xạ. Chu trình nhiên liệu mở (opened fuel cycle) Nguyên tắc của chu trình nhiên liệu mở là các vật liệu hạt nhân đi qua lò phản ứng chỉ một lần. Sau khi phân hạch, nhiên liệu được giữ tại bể nhiên liệu thải trong lò phản ứng, sau đó được đưa đi lưu trữ lâu dài khi nhiên liệu thải đạt các tiêu chuẩn về phóng xạ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có giải pháp thống nhất nào cho việc lưu trữ vĩnh viễn các loại nhiên liệu thải này.
Dựa vào hình 1.2, chúng tôi thấy hiện nay lò nước nặng áp lực (PHWR – Pressurized Heavy Water Reactor) và lò dùng than làm chất làm chậm, nước nhẹ là chất làm mát (RBMK - Reaktor Bolshoy Moshchnosti Kanalniy) sử dụng chu trình nhiên liệu mở. Chu trình nhiên liệu khép kín (closed fuel cycle) Trong chu trình nhiên liệu khép kín, các bó nhiên liệu thải sau khi được lưu trữ trong các bể nhiên liệu thải một thời gian sẽ được đưa đi tái chế để trích xuất Plutoni và Urani còn lại. Urani và Plutoni tái chế này tiếp tục được sử dụng sản xuất nhiên liệu cho các lò phản ứng. Chu trình nhiên liệu khép kín thường được sử dụng trong các lò phản ứng nước nhẹ (LWR – Light Water Reactor) dưới dạng nhiên liệu hỗn hợp ôxít (MOX – Mixed Oxide Fuel).
Ngoài việc tái chế nhiên liệu cho các lò phản ứng nước nhẹ như trên, một chu trình nhiên liệu khép kín khác tái chế Urani và Plutoni từ nhiên liệu thải của lò phản ứng dùng nơtron nhanh (FR – Fast Reactors) sẽ đem lại lượng Plutoni lớn hơn. Các giai đoạn của chu trình nhiên liệu hạt nhân Các giai đoạn của chu trình nhiên liệu được hệ thống trong phụ lục 5. Chu trình nhiên liệu hạt nhân bắt đầu với việc khai thác quặng Urani và kết thúc với việc xử lý các vật liệu tạo ra trong chu trình. Vì nguyên nhân thực tế chu trình được chia thành hai giai đoạn chính: sản xuất nhiên liệu – trước khi phân hạch (front-end) và xử lý nhiên liệu – sau khi phân hạch (back-end).
Giai đoạn trước khi phân hạch (front-end) bao gồm các bước: 9 - Thăm dò quặng Urani: các hoạt động liên quan đến việc phát hiện và phân tích các nguồn quặng Urani để sản xuất nhiên liệu hạt nhân. - Khai thác quặng Urani: các hoạt động liên quan đến việc khai thác quặng Urani từ mỏ. - Chế biến quặng Urani: các hoạt động liên quan đến quá trình nghiền và tinh chế quặng Urani để tạo thành bánh vàng chứa 80% đến 90% U3O8. - Chuyển đổi: các hoạt động liên quan đến việc tinh chế và chuyển đổi sang dạng phù hợp với từng loại nhiên liệu cho mỗi kiểu lò phản ứng.
- Làm giàu: các hoạt động liên quan đến việc làm giàu UF6 đồng vị để có được U-235 với tỉ lệ làm giàu (so với U-238) thích hợp. - Dùng Urani để chế tạo nhiên liệu: các hoạt động liên quan đến việc sản xuất nhiên liệu hạt nhân dùng trong các lò phản ứng. Các bó nhiên liệu hạt nhân được đưa vào lò phản ứng và được kích hoạt bởi một chùm nơtron nhiệt. Phản ứng phân hạch dây chuyền xảy ra cùng với năng lượng được tỏa ra.
Các bó nhiên liệu của lò phản ứng nước nhẹ sử dụng được 3 đến 5 năm trước khi được thay mới. Và đối với các lò làm mát bằng khí thế hệ I của Anh (GCR – Gas Cooled Reactor) và lò áp lực nước nặng thì nhiên liệu cần được thay mới sau 1 năm. Giai đoạn sau khi phân hạch (back-end) bao gồm các bước: Lưu trữ nhiên liệu thải tại nhà máy điện hạt nhân (AR – At Reactor): các hoạt động liên quan đến việc lưu trữ nhiên liệu thải trong lò phản ứng (lưu trữ trong các bể nhiên liệu thải).