CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài và những vấn đề lý luận về quan hệ lao động. Những nghiên cứu lý thuyết chung về quan hệ lao động. Tác phẩm “Strategie choice and industrial relations theory”(Sự lựa chọn chiến lược và lý thuyết về quan hệ chủ thợ) năm 1984 của Kochan, McKensie và Cappeli đã cung cấp hệ thống lý thuyết về sự lựa chọn chiến lược cho các nhà quản lý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa người lao động và chủ thuê lao động. Theo Kochan, có ba chiến lược về quan hệ lao động mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn sau khi đã phân tích thời cơ, nguy cơ từ bên ngoài và điểm mạnh, điểm yếu từ bên trong doanh nghiệp.
Đó là: Duy trì trạng thái không có công đoàn; để công đoàn tồn tại nhưng hạn chế ảnh hưởng và quyền lực; coi công đoàn là một yếu tố tích cực cho hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó sẽ có một loạt các chính sách tương ứng và mặc dù với những chiến lược khác nhau song những chính sách tiến bộ về quản trị nguồn nhân lực đều phát huy tác dụng. “Mô hình tác động tương hỗ của Andre Petit”, Andre Petit với quan điểm về mô hình tác động tương hỗ, điểm khác biệt trong mô hình quan hệ lao động của Petit là ông nhấn mạnh tác động tương hỗ giữa các thành phần, yếu tố trong quan hệ lao động. Đầu tiên các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài hoặc bên trong sẽ tác động đến các hoạt động diễn ra trong quan hệ lao động từ đó dẫn đến những kết quả nhất định.
Sau đó, chính những kết quả này lại tác động trở lại môi trường, tác động tới đầu vào và các hoạt động. Trong đó người lao động và người sử dụng lao động- công đoàn viên như là những người chơi trong một ván bài lợi ích và mục tiêu không tương đồng 1.Cơ sở pháp lý và kinh tế về quan hệ lao động. Cơ sở pháp lý đối với quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chính là Luật lao động. Luật lao động là vấn đề rất quan trọng trong đời sống con người và xã hội loài người nói chung và nhất là những người lao động nói 7 riêng.
Người lao động cũng là lực lượng quan trọng nhất trong xã hội vì họ tạo ra hầu hết các giá trị vật chất và tinh thần, quyết định sự phát triển xã hội. Vì vậy, những quy định điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực lao động cũng là bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào. Sau đó là luật Bảo hiểm xã hội, Luật an toàn lao động v. và những quy định, thông tư khác đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của người lao động khi tham gia vào các quan hệ lao động.
Luật lao động đảm nhiệm vai trò quan trọng chung của pháp luật, đó là sự thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực lao động xã hội. Thị trường sức lao động phát triển khi luật lao động ghi nhận quyền tự do việc làm và tự do tuyển dụng lao động, các bên được thỏa thuận tiền lương căn cứ vào giá trị sức lao động và tương quan cung cầu lao động của thị trường. Trong từng giai đoạn, các quy định của luật lao động được sửa đổi, bổ sung cũng là để thực hiện chủ trương của Đảng, mở rộng quyền tự do cho các bên, giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống người lao động, từng bước phát triển kinh tế cho phù hợp với tình trạng hiện tại. Từ đó, luật lao động còn là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết thị trường lao động.
Ngoài ra, luật lao động còn hỗ trợ cho thị trường bằng các quy định về chế độ bảo hiểm xã hội thống nhất và ghi nhận sự bảo trợ từ ngân sách cho quỹ bảo hiểm, duy trì hệ thống dịch vụ công về việc làm và các nguồn quỹ hỗ trợ cần thiết cho vấn đề việc làm, hỗ trợ việc đào tạo nghề qua quy định về hệ thống các cơ sở giáo dục trên toàn quốc. Các quy định của luật lao động đều nhằm điều tiết thị trường lao động, rõ nét nhất là quy định về lương tối thiểu, về điều kiện người lao động nước ngoài được làm việc tại Việt Nam.Từ ngày 1-1-2020, Bình Dương nghiêm chỉnh chấp hành Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động làm việc ở doanh nghiệp theo chế độ hợp đồng lao động như sau: - Mức 4.000 đồng/ tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.000 đồng/ tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.000 đồng/ tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.000 đồng/ tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV. Mức lương tối thiểu đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Trong đó các địa phương như TP.Thủ Dầu Một, các TX.Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo đều thuộc vùng I theo quy định của Nghị định 90/2019/NĐ-CP.Hiện nay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương đang thực hiện khá tốt Nghị định 90/2019/NĐ-CP của Chính Phủ để đảm bảo quyền lợi cho người lao động làm việc và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Trong quá trình hình thành và phát triển quan hệ lao động không thể tránh khỏi các xung đột, mâu thuẫn hay tranh chấp lao động. Tuy nhiên, nếu các cơ quan quản lý nắm bắt và hỗ trợ xử lý kịp thời và các chủ thể trong quan hệ lao động tôn trọng quy tắc ứng xử với tinh thần hợp tác hỗ trợ giải quyết khúc mắc giữa các bên thì tình trạng không tốt trong quan hệ lao động sẽ giảm đi rất nhiều. Có thể kể đến vụ việc điển hình về tranh chấp lao động tại Tỉnh Bình Dương của cán bộ Công nhân viên của Công ty Chí Hùng có trụ sở tọa lạc tại phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, Bình Dương) sau khi nghe thông báo công nhân nghỉ việc 2 tháng không lương, dẫn đến hàng nghìn người lao động kéo xuống đường đình công. Vụ tranh chấp lao động kéo dài từ 26/05/2020 đến 29/09/2020 với số lượng công nhân đình công phản đối lên đến 8.000 người, trong tổng số hơn 9.500 công nhân làm việc tại Công ty Chí Hùng.
9 Trong 6 tháng đầu năm 2020 thì tại Tỉnh Bình Dương đã xảy ra 12 vụ tranh chấp lao động tập thể tại 12 doanh nghiệp (giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm 2019). Các vụ việc tranh chấp lao động xảy ra chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với 11.571 người lao động tham gia. Theo Liên đoàn Lao động Bình Dương, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ yếu do người sử dụng lao động chậm công bố kế hoạch điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng, chất lượng bữa ăn ca chưa đảm bảo, bố trí thời gian làm việc chưa hợp lý. Ngoài ra, do người lao động yêu cầu doanh nghiệp sớm chi thưởng Tết, cho tạm ứng lương, thực hiện thông báo các chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi tác động của dịch bệnh COVID-19.
Trước các vụ tranh chấp, tổ chức công đoàn ở Bình Dương đã kịp thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng, ban giám đốc công ty tuyên truyền, vận động, giải thích để người lao động hiểu rõ vấn đề, ổn định tình hình và hầu hết các yêu cầu chính đáng của người lao động được được giải quyết thỏa đáng}. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước và những vấn đề lý luận liên quan đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tại bất kỳ doanh nghiệp nào cũng luôn tồn tại quan hệ lao động. Quan hệ lao động tốt hay xấu tùy thuộc và sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể lao động và trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ của từng chủ thể trong từng trường hợp và các giai đoạn hình thành và phát triển cụ thể.
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ lao động như : Nguyễn Mạnh Cường đã đưa ra mô hình quan hệ lao động ở các doanh nghiệp Việt Nam, trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình quan hệ lao động. Phương pháp phân tích mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay và khuyến nghị xây dựng mô hình, hoàn thiện hệ thống quan hệ lao động phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. Nghiên cứu“Công đoàn và quan hệ lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường tại Việt Nam”, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (2012). 1 (Theo https://laodong.vn/ldld-binh-duong/binh-duongcong-doan-kip-thoi-giai- quyet-12-vu-tranh-chap-lao-dong-tap-the-819067.
10 Nghiên cứu “ Quan hệ lao động tại các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Sóng Thần, Tỉnh Bình Dương nhìn từ góc độ lợi ích kinh tế-thực trạng và giải pháp “ ( của Tác giả Bùi Thanh Nhân- Năm 2015” đã phân tích thực trạng về QHLĐ tại các DN trong KCN Sóng Thần 1 ở góc độ lợi ích kinh tế và phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới QHLĐ. Trên cơ sở đó, hàm ý đề xuất một số giải pháp để giải quyết những vấn đề lợi ích kinh tế từ việc xây dựng QHLĐ hài h a, ổn định tại các DN trong KCN Sóng Thần, tỉnh Bình Dương. Công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thúy Hằng “ Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế” ( Năm 2019 ). Luận án góp phần xây dựng, hoàn thiện cơ sở lý luận và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh QHLĐ của NLĐ nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời ở mức độ nhất định, đây sẽ là những thông tin khoa học có giá trị giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp và những nhà quản lý tham khảo trong việc ban hành và áp dụng những quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh QHLĐ của NLĐ nước ngoài ( Trần Thúy Hằng ).
Công trình nghiên cứu khoa học “ Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại Công ty TNHH Dream Plastic “ ( Tác giả : Ngô Thị Phương Liên, Năm 2021).