CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DAO ĐỘNG TÀU 1.1 Phân tích dao động và kiểm soát dao động tàu thủy Dao động tàu là một vấn đề lớn ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ con tàu trong quá trình khai thác, vận hành. Trong công nghiệp tàu thuỷ, dao động của con tàu khi vận hành do rất nhiều yếu tố khác nhau tạo nên. Dao động tàu bao gồm dao động của máy chính, dao động của chân vịt, của các máy phụ, các ổ đỡ, hệ thống thông gió,… và rất nhiều các thiết bị hoạt động khác. Quá trình dao động ảnh hưởng đến độ bền của các kết cấu, tác động lên toàn bộ thân tàu và hoạt động sinh hoạt của con người trên tàu.
Chính vì vậy, việc kiểm soát và nắm bắt một cách chính xác cũng như hạn chế tối đa dao động trên tàu là điều rất khó khăn và trở nên cấp thiết cho các nhà máy đóng tàu hiện nay. Bên cạnh đó, quá trình đo đạc mức dao động lớn nhất của tàu đã đựơc các tổ chức đăng kiểm quy định một cách nghiêm ngặt trước khi đưa tàu vào khai thác. Ở Việt Nam, việc đi sâu vào tính toán mô phỏng, phân tích nguyên nhân và đưa ra những dự báo về dao động cho tàu vẫn còn nhiều hạn chế và vì vậy, chưa đánh giá đúng về dao động và giải quyết nó một cách khoa học. Sau khi con tàu đã được đóng hoàn chỉnh, chúng ta phải mất rất nhiều thời gian và tiền bạc để khắc phục hoặc thay thế để phù hợp với tiêu chuẩn dao động được quy định nghiêm nghặt từ các tổ chức đăng kiểm.
Các qui trình thử dao động tàu bao gồm đo đạc, phân tích dao động, xử lí các số liệu để đưa ra các dự báo và khắc phục dao động [2, 7, 11]. Dao động tàu thủy quá mức làm hạn chế sự tiện nghi và sinh hoạt cho khách và thuyền viên. Ngoài những ảnh hưởng không mong muốn cho con người, dao động quá mức cho con tàu có thể dẫn đến phá hủy mỏi cho các chi tiết kết cấu cục bộ hoặc làm sai lệch vận hành máy móc và thiết bị. Nghiên cứu dao động tàu thủy từ tính toán mô phỏng đến đo đạc thực nghiệm cùng với các hướng dẫn về dao động tàu của các tổ chức đăng kiểm nhằm giúp cho nhà máy đóng tàu, nhà thiết kế tàu, chủ tàu các hướng dẫn thực tế khi thiết kế nhằm tránh dao động quá mức cho tàu ngay giai đoạn đầu thiết kế.
Nếu theo sát cách thức được hướng dẫn với khả năng phán đoán tốt và sâu sắc ở giai đoạn thiết kế ban đầu thì các biện pháp đối phó ngặt nghèo hay công tác sửa sai ở các giai đoạn thiết kế tiếp theo hoàn toàn có thể tránh được. Nhìn chung việc tính toán, thiết kế và đo dao động tàu thủy do máy chính và chân vịt hay đối với tàu đệm khí là động cơ đẩy (dùng chong chóng), động cơ nâng (dùng quạt nâng) liên quan đến các chủ đề chính sau: thiết kế ban đầu, phân tích dao động (tính mô phỏng), đo dao động, các tiêu chuẩn đáp ứng. Để đánh giá tính năng dao MSHV: 1670760 9 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Đình Tuân động tàu, các mức độ dao động thực thụ tại các vị trí trọng yếu được đo đạc và đánh giá trong suốt quá trình thử tàu [5].
Công việc này bao gồm các thủ tục đo dao động liên quan đến thiết bị đo, các điều kiện đo và các vị trí đo, xử lý số liệu và báo cáo đo đạc. Sơ đồ đánh giá tổng quát dao động tàu thủy tổng quát được trình bày trên Hình 1. 1 - Sơ đồ tổng quát đánh giá dao động tàu thủy [7] Các phân tích dao động tàu thường dựa trên việc phân tích mô hình phần tử hữu hạn (FEA) để dự đoán đáp ứng dao động của con tàu và đánh giá thiết kế ở giai đoạn thiết kế chi tiết. Thủ tục phân tích dao động này có thể tìm thấy ở hầu hết trong các hướng dẫn phân tích ở các đăng kiểm khác nhau trên thế giới (ABS, DNV.
Trong khi đó, quy trình đo dao động tàu khi thử tàu và đối chiếu với các tiêu chuẩn đáp ứng về giới hạn dao động dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế (ISO / DIS 2631 /4, BS 6841, ISO 2631, ISO 6954, ISO 10816-1 (hoặc ISO 10816-3), ISO 1970,.) cũng được đề cập. Nghiên cứu này chỉ giới hạn vào việc xây dựng mô hình phân tích dao động cơ hệ động cơ – khung đỡ - chong chóng đẩy với các bài toán trị riêng (tìm các dạng dao động và tần số riêng tương ứng), đáp ứng dao động của hệ khung đỡ động cơ theo thiết kế đề nghị cũng như bố trí các chân cao su giảm chấn. Việc đánh giá mô hình tính số nói trên cũng được kiểm chứng thông qua việc hình thành quy trình đo dao động tàu MSHV: 1670760 10 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Đình Tuân cơ hệ này dựa trên thiết kế kết cấu khung đỡ, động cơ và chong chóng đẩy cụ thể với các chân đế cao su giảm chấn chọn trước.
Một cách thực tế, các thực nghiệm này cũng cho kết quả đánh giá chất lượng dao động của cơ hệ trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh gia dao động như ISO 6954, tiêu chuẩn ISO 10816-1 hay ISO 10816-3 dựa trên vận tốc dao động hay tiêu chuẩn cân bằng động ISO 1940/1 áp dụng cho chong chóng đẩy. Tại Việt Nam, ngoài các tính toán dao động xoắn hệ trục chân vịt tàu thủy, các nghiên cứu tập trung vào việc hình thành quy trình đo dao động tàu và đánh giá kết quả trên tàu biển như tàu 5190 tấn ký hiệu SSIC005 và 6800 tấn ký hiệu H181/105-01 (Hình 1.2) đóng tại nhà máy SSIC (Tàu biển Sài Gòn) và tại nhà máy Saigon Shipmarin. 2 - Bố trí chung của tàu H181/105-01 Việc đo dao động (đại lượng gia tốc, dùng gia tốc kế) được thực hiện tại các điểm đo chỉ ra trên từng con tàu và định rõ bằng điểm đo đánh dấu cụ thể (Hình 1. Kết quả đo thực tế là phổ gia tốc theo thời gian.
Chúng được tích phân để được phổ thời gian vận tốc. Tiến hành phân tích Fourier nhanh (FFT) kết quả trung gian này và trích ra các điểm có biên độ (vận tốc) lớn nhất ứng với tần số của nó (Hình 1. Tiếp theo, các kết quả này được lặp thành Biên bản đo rung tàu có xác nhận của các bên tham gia như đăng kiểm, chủ tàu và nhà máy đóng tàu. Kết quả này cũng được kiểm tra theo Tiêu chuẩn ISO 2631 hay ISO 6954 (Hình 1.5) để có kết luận cuối cùng cũng được ghi rõ trong Biên bản vừa đề cập trên.
MSHV: 1670760 11 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Đình Tuân Hình 1. 3 - Vị trí các điểm đo dao động xác định trên tàu cần thử Hình 1. 4 - Phổ thời gian vận tốc, gia tốc của điểm đo cụ thể số 14 MSHV: 1670760 12 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Lê Đình Tuân Hình 1. 5 - Đánh giá dao động tàu theo ISO 6954 (1984) Gần đây, trong các yêu cầu về kiểm soát dao động tàu thủy do hệ thống động lực tàu thủy gây ra (động cơ, máy phát điện.), tiêu chuẩn ISO 10816-1 (hay 10816-3) quy định rõ mức vận tốc dao động cho phép. Tiêu chuẩn hướng dẫn này đánh giá mức độ dao động trong máy móc hoạt động trong phạm vi tần số 10 đến 200Hz (tương đương 600 đến 12.000 RPM) nhờ vào một biểu đồ giới hạn vận tốc theo cấp máy (theo công suất) kết hợp với các yếu tố khác (độ cứng vững của đế máy) để đánh giá mức độ dao động tổng thể của máy. Đơn cử, một máy phát điện (Hình 1.6) được kiểm soát dao động theo tiêu chuẩn này trên cơ sở sử dụng quy chuẩn kỹ thuật kiểm tra DNV GL Pt.2 (Đăng kiểm Na Uy), chi tiết hơn: - Việc đo dao động trên máy phát điện trích lực từ trục chính của máy chính thông qua hộp số được tiến hành tại các cấp tốc độ tương đương 90%, 100% và (tối thiểu) 105% so với máy phát không tải và tàu ở tốc làm việc khi tàu ở trạng thái ổn định.
Việc đo dao động được thực hiện gần cả hai ổ đỡ đầu cuối theo phương đứng, ngang và dọc trục. Tần số phân tích được khảo sát trong khoảng 2 đến 100 Hz. - Trừ khi có hướng dẫn khác bởi nhà sản xuất và được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm định, các mức vận tốc dao động không được vượt quá các giá trị sau: Đối với chế độ chạy liên tục lâu dài, tức ở 90% và 100% tốc độ máy phát: MSHV: 1670760 13 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Đình Tuân 4.
Đối với chế độ chạy giới hạn, tức ở 105% tốc độ máy phát: 7.1 mm/s rms (căn quân phương) tại mỗi thành phần tần số đối với dao động gây ra bởi các nguồn nội tại và bên ngoài. Các giá trị giới hạn xác định theo ISO 10816-3:2009, tiêu chuẩn đánh giá dao động máy bằng đo dao động trên các chi tiết không quay (ví dụ: đế máy, sàn tàu…) – Phần 3: Máy móc công nghiệp với công suất danh nghĩa trên 15 kW và tốc độ danh nghĩa từ 120 vòng/phút đến 15.000 vòng/phút khi đó tại hiện trường. 6 - Vị trí điểm đo dao động trên máy phát điện PTO của tàu ANTARCTIC AURORA MSHV: 1670760 14 HV: Phạm Hồng Thanh Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Đình Tuân 1.2 Bài toán dao động trong tàu đệm khí 1.1 Sơ lược về tàu đệm khí Tàu đệm khí hoạt động dựa trên sự tự nâng tàu trên mặt nước hay mặt đất bằng cách tạo ra áp lực dưới dạng một đệm khí.
Cấu tạo bao gồm thân tàu, quạt nâng, chong chóng đẩy, váy đệm khí, hệ thống lái…Quạt nâng cung cấp khí làm căng váy và duy trì áp lực đệm khí trong không gian được vây bởi váy khí, bánh lái đặt ở phần đuôi tàu đảm nhiệm việc điều khiển tàu. Váy đệm khí, được gắn chặt với phần thân tàu, giúp duy trì đệm khí dưới tàu. Chong chóng đẩy, thực tế ở xa đuôi tàu, đóng góp lực đẩy chính cho tàu (Hình 1. 7 - Nguyên lý hoạt động của tàu đệm khí Khi hoạt động, tàu luôn cách ly với mặt nước hay mặt đất và không có phần chìm vào nước, vì vậy nó có thể hoạt động cả trên mặt đất và mặt nước.