CHƯƠNG 1. Khái quát về d4t 2’,3’-Didehydro-3’-deoxythymidin (stavudin) (1), Zidovudin (2) và lamivudin (3) (hình 1) là thuốc được dùng rộng rãi ở dạng đơn chất và tổ hợp để điều trị HIV [1-4]. Nhóm thuốc này hoạt động như tác nhân ức chế enzim phiên mã ngược của virus HIV ( HIV-RT) [5]. Tổng doanh thu của thuốc d4T năm 1998 trên 1,1tỷ USD.
AZT và d4T là hai biệt dược chữa HIV/AIDS nằm trong danh mục thuốc dự trữ liêu thông của Bộ Y tế, và đang được sử dụng chủ yếu trong điều trị bệnh HIV/AIDS. Vì thế, nghiên cứu tổng hợp stavudin, thuốc chống HIV/AIDS ở Việt Nam để người bệnh được tiếp cận thuốc giá rẻ, chủ động nguồn thuốc chữa bệnh HIV-AIDS ở Việt Nam là cần thiết và cấp bách. Trong luận văn nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu quy trình tổng hợp stavudin, từ đó phân tích cấu trúc và độ sạch của stavudin bằng các phương pháp hóa lý hiện đại. O O NH2 HN HN N O O N O N N O HO O O HO HO S N3 Stavudin (1) Zidovidin (2) Lamivudin (3) Stavudin là thuốc chống HIV/AIDS đã được sử dụng rất rộng nên trên thế giới [6-33] có nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả để tổng hợp chất này.
Nhìn chung d4T được tổng hợp theo hướng sau đây: Một số phương pháp tổng hợp d4T *Tổng hợp d4T từ thymidin. Tổng hợp stavudin từ thymidin được tiến hành theo nhiều con đường khác nhau và có thể tóm tắt trong sơ đồ 1. Từ dẫn xuất mesyl hóa (4) 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn và ( 5), anhydrit (6) [30] và oxetan (7) [31] có thể chuyển hoá thành stavudin (1) dưới tác dụng của các tác nhân khác nhau. O O O HN HN HN O O N O N N 1) LiCN, DMF 1) LiCN, DMF O HO O O TrO TrO 2) CH 3COOH 2) CH3 COOH MsO MsO 4 1 5 Sơ đồ 1.1 O O O N HN HN O N 1) LiCN, DMF O N O N Base O HO O O HO 2) CH3 COOH O (80%) 6 1 7 Sơ đồ 1.2 * Tổng hợp d4T từ 5-methyl uridin Stavudin đã đươc Ewing và các cộng sự [32] tổng hợp từ 5-methyl uridin (8) qua 4 bước phản ứng như mô tả trong sơ đồ 1.3: 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn O O O HN HN HN O N O N O N TrCl, Py a) NaIO4 O O O HO TrO TrO b) Ph3 PCH 3 Br HO OH HO OH 9 10 8 Grubbs reagent O O HN HN O N O N AcOH (80%) O O HO TrO Stavudin (1) 11 Sơ đồ 1.3 Trong phương pháp này, tổng hợp stavudin từ 5-methyluridin (8) sử dụng các tác nhân phản ứng đắt tiền (tác nhân cho phản ứng Wittig và tác nhân cho phản ứng Grubbs).
Tổng quan về phương pháp phân tích hóa lý 1. Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR và 13C-NMR. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (CHTHN) [33-35] là phương pháp vật lý hiện đại nghiên cứu cấu trúc của các hợp chất hữu cơ. Phương pháp phổ biến được sử dụng là phổ 1H-NMR và 13C-NMR.
Hạt nhân của nguyên tử 1H và 13 C có momen từ. Nếu đặt proton trong từ trường không đổi thì moment từ của nó có thể định hướng cùng chiều hay ngược chiều với từ trường. Đó là spin hạt nhân có tính chất lượng tử với các số lượng tử +1/2 và -1/2. Độ chuyển dịch hóa học : Do hiệu ứng chắn từ khác nhau nên các hạt nhân 1H và 13C trong phân tử có tần số cộng hưởng khác nhau.
Đặc trưng cho các hạt nhân 1H và 13C trong phân tử có độ chuyển dịch hóa học δ; đối với hạt x nhân 1H thì: TMS .10 6 ( ppm) o 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Trong đó: νTMS, νx là tần số cộng hưởng của chất chuẩn TMS và của hạt nhân mẫu đo, νo là tần số cộng hưởng của máy phổ. Đối với các hạt nhân khác thì độ chuyển dịch hóa học được định nghĩa một các tổng quát như sau: chuan x .10 6 ( ppm) o Trong đó: νchuan, νx là tần số cộng hưởng của chất chuẩn và của hạt nhân mẫu đo, νo là tần số cộng hưởng của máy phổ. Hằng số chắn σ xuất hiện do ảnh hưởng của đám mây electron bao quanh hạt nhân nguyên tử, do đó tùy thuộc vào vị trí của hạt nhân 1H và 13C trong phân tử khác nhau mà mật độ electron bao quanh nó khác nhau dẫn đến chúng có giá trị hằng số chắn σ khác nhau và do đó độ chuyển dịch hóa học của mỗi hạt nhân khác nhau. Theo đó proton nào cộng hưởng ở trường yếu hơn sẽ có độ chuyển dịnh hóa học lớn hơn.
Dựa vào độ chuyển dịch hóa học ta biết được loại proton nào có mặt trong chất được khảo sát. Giá trị độ chuyển dịch hóa học không có thứ nguyên mà được tính bằng phần triệu (ppm). Đối với 1H-NMR thì δ có giá trị từ 0-12 ppm, đối với 13C-NMR thì δ có giá trị từ 0-230 ppm. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân của benzyl axetat 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Hằng số tương tác spin-spin J: Trên phổ NMR, mỗi nhóm hạt nhân không tương đương sẽ thể hiện bởi một cụm tín hiệu gọi và vân phổ, mỗi vân phổ có thể bao gồm một hoặc nhiều hợp phần.
Nguyên nhân gây nên sự tách tín hiệu cộng hưởng thành nhiều hợp phần là do tương tác của các hạt nhân có từ tính ở cạnh nhau. Tương tác đó thể hiện qua các electron liên kết. Giá trị J phụ thuộc vào bản chất của hạt nhân tương tác, số liên kết và bản chất các liên kết ngăn giữa các tương tác. Hằng số tương tác spin-spin J được xác định bằng khoảng cách giữa các hợp phần của một vân phổ.
Dựa vào hằng số tương tác spin-spin J ta có thể rút ra kết luận về vị trí trương đối của các hạt nhân có tương tác với nhau. Phương pháp phổ khối lượng (MS) Nguyên tắc chung của phương pháp phổ khối lượng là phá vỡ phân tử trung hòa thành ion phân tử và các mảnh ion dương có số khối z = m/e. Sau đó phân tách các ion này theo số khối và ghi nhận được phổ khối lượng. Dựa vào phổ khối này có thể xác định phân tử khối và cấu tạo phân tử của chất nghiên cứu [33-35].
Để phá vỡ phân tử người ta có nhiều phương pháp: bắn phá bằng dòng electron (EI), phương pháp ion hóa hóa học (CI), phương pháp bắn phá nguyên tử nhanh (FAB)… Dùng dòng eclectron có năng lượng cao để bắn phá phân tử là phương pháp hay được sử dụng nhất. Khi bắn phá các phân tử hợp chất hữu cơ trung hòa sẽ trở thành các ion phân tử mang điện tích dương hoặc bị phá vỡ thành các ion và các gốc theo sơ đồ: ABC 2e (1) > 95% ABC e 2 ABC 3e (2) ABC- Sự hình thành các ion mang điện tích +1 chiếm hơn 95%, còn lại là các ion mang điện tích +2 và điện tích âm (-). Năng lượng bắn phá các phân tử thành ion phân tử khoảng 10 eV. Nhưng với năng lượng cao thì ion phân tử 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn có thể phá vỡ thành các mảnh ion dương (+), hoặc các ion gốc, các gốc, hoặc phân tử trung hòa nhỏ hơn, nên người ta thường thực hiện bắn phá các phân tử ở mức năng lượng 70 eV.
ABC A BC ABC AB B AB A B Sự phá vỡ này phụ thuộc vào cấu tạo chất, phương pháp bắn phá và năng lượng bắn phá. Quá trình này gọi là quá trình ion hóa. Các ion ion dương hình thành đều có khối lượng m và mang điện tích e, tỉ số m/e được gọi là số khối z. Bằng cách nào đó tách các ion có số khối khác nhau ra khỏi nhau và xác định được xác suất có mặt của chúng, rồi vẽ đồ thị biểu diễn mối liên quan giữa xác suất có mặt (hay cường độ I) và số khối z thì đồ thị này được gọi là phổ khối lượng (Hình 1.
Phổ khối lượng của benzamit (C6H5CONH2) Như vậy, khi phân tích phổ khối lượng người ta thu được khối lượng phân tử của chất nghiên cứu, từ các pic mảnh ion trên phổ đồ có thể xác định được cấu trúc phân tử và tìm ra qui luật phân mảnh. Đây là một trong những thông số quan trọng để qui kết chính xác cấu trúc phân tử của một chất cần nghiên cứu khi kết hợp nhiều phương pháp phổ với nhau. Phương pháp phổ hồng ngoại (IR) Trong số các phương pháp phân tích cấu trúc, phổ hồng ngoại cho nhiều thông tin quan trọng về cấu trúc của hợp chất [33-35]. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Bức xạ hồng ngoại bao gồm một phần của phổ điện từ, đó là vùng bước sóng khoảng 10-4 đến 10-6 m.
Nó nằm giữa vi sóng và ánh sáng khả kiến. Phần của vùng hồng ngoại được sử dụng nhiều nhất để xác định cấu trúc nằm trong giữa 2,5x10-4 và 16x10-6 m. Đại lượng được sử dụng nhiều trong phổ hồng ngoại là số sóng (cm-1), ưu điểm của việc dùng số sóng là là chúng tỷ lệ thuận với năng lượng. Khi chiếu các bức xạ hồng ngoại vào phân tử các hợp chất, bức xạ hồng ngoại sẽ kích thích phân tử từ trạng thái dao động cơ bản lên trạng thái dao động cao hơn.
Có 2 lại dao động khi phân tử bị kích thích là dao động hóa trị và biến dạng, dao động hóa trị (ν) là dao động làm thay đổi độ dài liên kết, dao động biến dạng (δ) là dao động làm thay đổi góc liên kết. Đường cong biểu diễn cường độ hấp thụ với số sóng của bức xạ hồng ngoại được gọi là phổ hồng ngoại, trên phổ biểu diễn các cực đại hấp thụ ứng với những dao động đặc trưng của nhóm nguyên tử hay liên kết nhất định, (Hình 1. Phổ hồng ngoại của benzyl ancol Căn cứ vào phổ hồng ngoại đo được đối chiếu với các dao động đặc trưng của các liên kết, ta có thể nhận ra sự có mặt của các liên kết trong phân tử. Một phân tử có thể có nhiều dao động khác nhau và phổ hồng ngoại của các phân tử khác nhau thì khác nhau, tương tự như sự khác nhau của các vân ngón tay.
Sự chồng khít lên nhau của phổ hồng ngoại thường được làm dẫn chứng cho hai hợp chất giống nhau. 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.