CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Thị trường chứng khoán và chỉ số giá chứng khoán 1. Thị trường chứng khoán TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán chứng khoán và là kênh huy động các nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư vào các hoạt động của doanh nghiệp cũng như tài trợ cho các dự án tăng trưởng kinh tế của Chính phủ. TTCK đo lường sự phát triển kinh tế của một quốc gia và được xem là hiệu quả nếu giá chứng khoán điều chỉnh nhanh chóng mỗi khi xuất hiện thông tin mới khiến tâm lý NĐT thay đổi hay sự điều tiết các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
Chỉ số giá chứng khoán Chỉ số giá chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu. Chỉ số này được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định. Thông thường danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại một Sở giao dịch, cùng ngành hoặc cùng mức vốn hóa thị trường.1 Chỉ số giá chứng khoán không chỉ được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu vì mối liên kết chặt chẽ với nền kinh tế, xã hội của một quốc gia mà ngay cả những nhà đầu tư và quản lý thị trường có thể thông qua đó để mô tả thị trường, so sánh lợi nhuận hoặc ước tính tỷ suất sinh lời theo yêu cầu của mình trước khi đưa ra các quyết định đầu tư. Thị trường chứng khoán Việt Nam có thể được đại diện bằng hai chỉ số giá chứng khoán chính là chỉ số VN-index trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 1 Nguyễn Minh Kiều, Nguyễn Văn Điệp (2013), “Quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và biến động thị trường chứng khoán: Bằng chứng thực nghiệm từ thị trường Việt Nam” 5 và chỉ số HNX-index trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội.
Trên thực tế, chỉ số VN-index vẫn thường được sử dụng để nghiên cứu nhiều hơn so với chỉ số HNX- index. Hiện nay có nhiều phương pháp phổ biến trong việc tính chỉ số giá chứng khoán như phương pháp số bình quân đơn giản, phương pháp bình quân nhân đơn giản, phương pháp Fisher, phương pháp Passcher, phương pháp Laspesyers 1. Chỉ số giá chứng khoán VN-index Chỉ số giá chứng khoán VN-index là chỉ số thể hiện xu hướng biến động giá của tất cả cổ phiếu niêm yết và giao dịch trên SGDCK TPHCM. Công thức tính chỉ số giá chứng khoán VN-index theo phương pháp Passcher: ∑ 𝑃1𝑖 𝑄1𝑖 VN-index = × 100 ∑ 𝑃0𝑖 𝑄0𝑖 Trong đó: ∑ 𝑃1𝑖 𝑄1𝑖 là tổng giá trị vốn hóa thị trường của các công ty được niêm yết ở thời điểm hiện tại ∑ 𝑃0𝑖 𝑄0𝑖 là tổng giá trị vốn hóa thị trường của các công ty được niêm yết ở thời điểm gốc (ngày 28/07/2000) 1.
Chỉ số giá chứng khoán HNX-index Chỉ số chứng khoán HNX-index đo lường mức biến động giá của tất cả các CP niêm yết và giao dịch trên SGDCK Hà Nội với ngày gốc được lựa chọn là 14/7/2005 Công thức tính chỉ số HNX-index: Giai đoạn từ 2005 – 2014: HNX-index tính theo công thức Passcher so sánh tổng giá trị thị trường hiện tại với tổng giá trị thị trường các CP niêm yết tại thời điểm gốc. 6 Giai đoạn từ 2015 trở đi: HNX-index sẽ được tính toán dựa trên giá trị vốn hoá thị trường có điều chỉnh tỷ lệ CP tự do chuyển nhượng (lớn hơn hoặc bằng 5%) của tất cả các CP niêm yết và giao dịch tại SGDCK Hà Nội.2 𝑀𝑉 HNX-index = x Điểm cơ sở 𝐻ệ 𝑠ố 𝑐ℎ𝑖𝑎 Trong đó: MV: Giá trị thị trường tại thời điểm hiện tại (𝑀𝑉 = ∑𝑛𝑖=1 𝑃𝑖 𝑄𝑖 ) N: Số CP trong rổ chỉ số 𝑃𝑖 : Giá giao dịch gần nhất của CP i 𝑄𝑖 : Khối lượng CP i lưu hành đã điều chỉnh tỷ lệ CP tự do chuyển nhượng (trong trường hợp tỷ trọng CP nào quá lớn sẽ được áp dụng kỹ thuật tỷ lệ vốn hoá tối đa) Hệ số chia: bằng giá trị thị trường của ngày cơ sở Điểm cơ sở HNX-index là 100 Để bảo toàn tính lịch sử và tính liên tục, điểm chỉ số HNX-index phiên giao dịch đầu tiên của năm 2015 sẽ được tính toán tiếp tục với điểm chỉ số đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của năm 2014. Sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến TTCK 1. Sự tác động của giá vàng đến TTCK Vàng có tính thanh khoản rất cao và khả năng phản ứng nhanh đối với sự thay đổi giá, đồng thời sự biến động của giá vàng có ảnh hưởng đến phần lớn các nền kinh tế trên thế giới, trong đó có TTCK.
Các NĐT thường sử dụng chiến lược quản trị rủi ro đơn giản là đa dạng hóa danh mục đầu tư bằng cách đầu tư vào hai loại hàng hóa là vàng hoặc dầu, 2 Website SGDCK Hà Nội (www.vn) 7 cả trực tiếp lẫn gián tiếp, để đề phòng rủi ro vì hai khoản đầu tư này thường có mối quan hệ nghịch đảo với xu hướng biến động của TTCK. Trong các cuộc khủng hoảng tài chính hay bất ổn về chính trị, khi giá CP luôn luôn sụt giảm, làm giảm niềm tin của các NĐT thì giá vàng lại thường tăng mạnh và được xem là “nơi tránh bão” để tránh thiệt hại cho các NĐT suốt những thời kỳ này. Nhiều nghiên cứu kết luận có sự tồn tại của mối quan hệ nghịch biến giữa giá vàng và giá chứng khoán và mối quan hệ này có xu hướng thay đổi theo thời gian. Theo John Leyers (2007), mối quan hệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào từng trường hợp các nước, trong dài hạn khoảng 15 năm thì có mối quan hệ nghịch biến, ngược lại trong ngắn hạn thì có mối quan hệ đồng biến.
Sự tác động của giá dầu đến TTCK Mối quan hệ giữa giá dầu và TTCK là một trong những vấn đề mà các nhà kinh tế học quan tâm không chỉ vì dầu là nguyên nhiên liệu đầu vào quan trọng mà còn có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong khi TTCK chính là thước đo sức khỏe của một nền kinh tế. Về mặt lý thuyết, đối với đa phần các quốc gia nhập khẩu dầu ròng trên thế giới, giá dầu sẽ ảnh hưởng ngược chiều đến giá chứng khoán của một thị trường hay một nhóm ngành riêng lẻ thông qua hai hướng sau: Thứ nhất, giá dầu là yếu tố đầu vào cho hầu hết quá trình sản xuất hiện nay. Một sự tăng lên của giá dầu sẽ làm tăng chi phí đầu vào của DN dẫn đến giảm lợi nhuận mà DN tạo ra. Khi đó, cổ tức chi trả cho CP sẽ giảm khiến CP của những DN này trở nên kém hấp dẫn hơn, trừ CP của các DN kinh doanh xăng dầu.
Ngược lại, giá dầu giảm thông thường là tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế vì giá dầu rẻ sẽ kích thích sản xuất phát triển làm tăng kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lại và được phản ánh bằng sự tăng giá CP ngay lập tức trên TTCK 8 Thứ hai, theo Huang, Lee & Yang (2012), kỳ vọng từ giá dầu sẽ ảnh hưởng gián tiếp lên thu nhập chứng khoán thông qua lãi suất chiết khấu. Đối với một quốc gia nhập khẩu dầu ròng, giá dầu tăng sẽ tạo áp lực gia tăng lạm phát kỳ vọng (lạm phát do chi phí đẩy). Khi tỷ lệ lạm phát kỳ vọng cao sẽ buộc NHTW tăng lãi suất chiết khấu để kìm hãm đà tăng lạm phát, gây ảnh hưởng nghịch biến lên giá chứng khoán. Tuy nhiên, mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và giá chứng khoán sẽ thay thế bằng quan hệ cùng chiều đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ròng (như các quốc gia ở khu vực Trung Đông) vì nền kinh tế của những nước này đa phần phụ thuộc vào việc xuất khẩu dầu.
Một cú sốc giảm giá dầu thô (do nguồn cung tăng đột biến) sẽ khiến nền kinh tế các nước này có khả năng lỗ nặng, gây ra tâm lý hoang mang cho các NĐT, đặc biệt là các NĐT nước ngoài, khiến họ lập tức bán tháo CP đang nắm giữ để rút khỏi thị trường. Sự tác động của các TTCK khác trên thế giới Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về sự tác động giữa các TTCK với nhau nhưng không thống nhất được chiều ảnh hưởng cụ thể mà tùy vào sự phát triển kinh tế của mỗi thị trường và thời gian được chọn nghiên cứu khác nhau dẫn đến kết luận cũng khác nhau. Nói cách khác, việc đánh giá sự tác động giữa các TTCK là câu hỏi thực nghiệm phải dựa trên dữ liệu về các chỉ số chứng khoán đại diện cho các thị trường đó để trả lời. Ramchand & Susmel (1998) kiểm định giả thiết về mối tương quan tĩnh có điều kiện giữa các TTCK quốc tế và kết luận rằng mối tương quan trong giai đoạn thị trường biến động nhiều nhìn chung cao hơn so với giai đoạn thị trường biến động ít.
Rigobon (2002) kiểm định sự lây lan giữa các TTCK trong giai đoạn sụp đổ của TTCK Mỹ 1987, phá giá đồng peso của Mehico 1994 và khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 dựa trên hệ số tương quan điều chỉnh. Kết luận cho thấy, chính mối liên kết chéo mạnh mẽ giữa các thị trường là nguyên nhân gây ra sự hiệu ứng khủng hoảng đồng loạt trong những giai đoạn này. 9 Yang & Min (2003) xem xét mối quan hệ dài hạn và mối quan hệ nhân quả ngắn hạn giữa các TTCK ở Mỹ và Nhật cùng 5 thị trường mới nổi của Châu Á. Phân tích nhấn mạnh mức độ liên kết giữa các quốc gia có xu hướng thay đổi theo thời gian, đặc biệt là xung quanh các thời kỳ được đánh dấu bằng một cuộc khủng hoảng kinh tế Yan Shang (2007) phân tích mối quan hệ giữa các thị trường Châu Á gồm Nhật, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc và Mỹ trong các giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng kinh tế 1997.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong những năm khủng hoảng, giá chứng khoán ở các nước hầu như không có sự tương quan, nhưng sau khủng hoảng, các thị trường có xu hướng liên kết ngày càng tăng, trong đó thị trường Mỹ tác động mạnh nhất đến chứng khoán Châu Á.