Chương 1: Giới thiệu tổng quan, lý do chọn đề tài, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2 Giới thiệu tổng quan về truyền Video trong mạng D2D. Chương 3 Giới thiệu các kỹ thuật lưu trữ và phân phối tài nguyên trong truyền Video qua mạng D2D. Chương 4 Kỹ thuật phân phối công suất và lưu trữ theo xác suất đa tốc độ trong truyền Video qua mạng D2D dày đặc.
Chương 5 Kết luận và hướng phát triển của đề tài. HVTH: Lâm Văn Việt 5 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Hoàng Trang – TS. Võ Nguyên Sơn CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN VIDEO TRONG MẠNG D2D 2.1 Giới thiệu mạng D2D Trước đây, việc truyền thông tin giữa các thiết bị có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các kết nối vật lý hữu tuyến hoặc nhờ công nghệ tần số vô tuyến.
Đối với mạng thông tin di động, tín hiệu vô tuyến truyền từ người dùng di động ở phía máy phát đến trạm gốc MBS, sau đó MBS chuyển tiếp các tín hiệu này đến người dùng di động khác ở phía máy thu, đây cũng là mô hình tiêu chuẩn của mạng thông tin di động. Trong mạng di động truyền thống, các thiết bị mặc định phải được kết nối thông qua MBS ngay cả khi chúng nằm trong phạm vi có thể truyền thông trực tiếp với nhau. Kiến trúc này phù hợp với các dịch vụ di động tốc độ dữ liệu thấp thông thường như cuộc gọi thoại và tin nhắn văn bản mà người dùng thường không đủ gần để liên lạc trực tiếp. Tuy nhiên, người dùng di động trong các mạng di động ngày nay sử dụng các dịch vụ tốc độ dữ liệu cao (ví dụ: chia sẻ video, chơi trò chơi, mạng xã hội lân cận) trong đó họ có khả năng nằm trong phạm vi liên lạc trực tiếp.
Nhằm đáp ứng cho sự bùng nổ về nhu cầu dữ liệu của người dùng di động, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các mô hình mới để cách mạng hóa các phương thức giao tiếp truyền thống trong mạng thông tin di động. Truyền thông giữa thiết bị với thiết bị D2D là một trong những mô hình đầy hứa hẹn trong công nghệ di động thế hệ tiếp theo. Truyền thông D2D trong mạng di động được định nghĩa là giao tiếp trực tiếp giữa các thiết bị di động mà không đi qua trạm gốc MBS hoặc mạng lõi [18]. Truyền thông D2D ngoài việc làm tăng hiệu quả sử dụng phổ tần của mạng, còn có khả năng cải thiện thông lượng, hiệu quả năng lượng, độ trễ và tính công bằng.
Trong giới học thuật, truyền thông D2D lần đầu tiên được đề xuất nhằm cho phép chuyển tiếp nhiều chặng trong mạng di động [19]. Các công trình sau đó nghiên cứu tiềm năng của truyền thông D2D để cải thiện hiệu suất phổ tần của mạng di động [20]–[24]. Những ứng dụng D2D tiềm năng khác cũng được giới thiệu như phát đa điểm [25], giao tiếp ngang hàng [26], phân phối video [27], giao tiếp giữa các máy (M2M) [28], giảm tải mạng di động [29], v. Các trường hợp sử dụng phổ biến của truyền thông D2D được trình bày trong Hình 2.
HVTH: Lâm Văn Việt 6 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Hoàng Trang – TS. Võ Nguyên Sơn Đối với việc triển khai truyền thông D2D thực tế trong mạng di động, nỗ lực đầu tiên được đề xuất bởi Qualcomm dùng kỹ thuật FlashLinQ [30], đây là kiến trúc mạng PHY/MAC dành cho truyền thông D2D nằm bên dưới các mạng di động. FlashLinQ sử dụng các công nghệ OFDM/OFDMA và lập lịch phân tán để tạo ra một phương pháp hiệu quả cho việc đồng bộ thời gian, khám phá ngang hàng và quản lý liên kết trong các mạng di động hỗ trợ D2D.
Ngoài giới học thuật và các công ty viễn thông, tổ chức 3GPP cũng đã và đang nghiên cứu truyền thông D2D dưới dạng dịch vụ lân cận (ProSe). Cụ thể, tính khả thi của ProSe và các trường hợp sử dụng của nó trong LTE, cũng như các cải tiến kiến trúc cần thiết để đáp ứng các trường hợp sử dụng đó cũng được nghiên cứu. ProSe đã được đưa vào từ phiên bản 12 của 3GPP như một tính năng mạng an toàn công cộng, tập trung vào giao tiếp đa điểm [31]. Truyền thông D2D phổ biến trong mạng thông tin di động 2.1 Phân loại truyền thông D2D Dựa trên cách quản lý chia sẻ phổ tần giữa liên kết D2D và thiết bị người dùng di động UE, truyền thông D2D có thể được phân loại thành hai phương thức hoạt động, đó là D2D trong băng tần (Inband D2D - IBD) và ngoài băng tần (Outband D2D - OBD).
Truyền thông IBD xảy ra trên phổ di động, trong khi truyền thông OBD sử dụng các dải tần không được cấp phép. HVTH: Lâm Văn Việt 7 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Hoàng Trang – TS. Võ Nguyên Sơn Phần lớn các tài liệu nghiên cứu về truyền thông D2D đề xuất sử dụng phổ di động cho cả giao tiếp di động và D2D [18].
Những công trình này thường nghiên cứu vấn đề giảm nhiễu giữa D2D và giao tiếp di động [20]. Bên cạnh đó, để tránh vấn đề can nhiễu, một số nghiên cứu đề xuất dành một phần tài nguyên di động cho truyền thông D2D [32]. Trong trường hợp này, việc phân bổ tài nguyên trở nên vô cùng quan trọng để tài nguyên di động không bị lãng phí. Ngoài ra, các nghiên cứu khác đề xuất truyền thông OBD thay vì IBD để phổ di động quý giá không bị ảnh hưởng bởi truyền thông D2D [33].
Đối với truyền thông OBD, sự phối hợp giữa các giao diện vô tuyến được điều khiển bởi MBS hoặc bởi chính người dùng. Truyền thông OBD đối mặt với một số thách thức trong việc điều phối giao tiếp trên hai băng tần khác nhau vì thông thường truyền thông D2D diễn ra trên giao diện vô tuyến thứ hai (ví dụ: WiFi Direct hay Bluetooth). Các nghiên cứu về OBD tập trung vào các vấn đề như mức tiêu thụ công suất, thiết kế kiến trúc liên công nghệ.2 [34] mô tả sự phân loại truyền thông D2D theo các phương thức khác nhau. Phân loại truyền thông D2D 2.1 Truyền thông IBD Phương pháp này đề xuất sử dụng phổ di động cho cả liên kết di động và D2D.
Mục đích để chọn giao tiếp IBD thường là khả năng kiểm soát cao đối với phổ tần di động (tức là phổ tần được cấp phép). Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhiễu trong phổ tần không được cấp phép là không thể kiểm soát được, điều này đặt ra các ràng buộc đối với việc cung cấp QoS. Các nghiên cứu về IBD chủ yếu tập trung vào vấn đề giảm HVTH: Lâm Văn Việt 8 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Hoàng Trang – TS.
Võ Nguyên Sơn thiểu nhiễu giữa các liên kết D2D và UE. Truyền thông IBD có thể được chia thành hai loại underlay và overlay, cụ thể như sau: i. Underlay IBD Trong truyền thông underlay IBD, giao tiếp di động và D2D chia sẻ cùng một tài nguyên vô tuyến. Cho đến nay, phần lớn các tài liệu nghiên cứu về IBD đều tập trung vào underlay nhằm hướng đến việc đưa truyền thông D2D làm nền tảng cho các mạng di động.
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc sử dụng nền tảng D2D để cải thiện hiệu suất của mạng di động như hiệu suất phổ, hiệu suất công suất, vùng phủ sóng di động và các mục tiêu khác. Overlay IBD Ngược lại, trong truyền thông overlay IBD, một phần tài nguyên di động được dành riêng cho truyền thông D2D. Cách tiếp cận này giúp loại bỏ những lo ngại về nhiễu giữa các liên kết D2D và UE, nhưng không tận dụng hiệu quả tài nguyên phổ tần cho giao tiếp di động.2 Truyền thông OBD Do vấn đề can nhiễu của truyền thông IBD, các công trình nghiên cứu theo hướng này đã đề xuất ý tưởng về truyền thông OBD trong đó hoạt động D2D được chuyển sang phổ tần không được cấp phép nhằm loại bỏ hoàn toàn vấn đề can nhiễu giữa các liên kết D2D và UE. Công nghệ Wi-Fi Direct thực sự có thể được coi là một loại giao tiếp OBD.
Giao tiếp OBD có thể được chia thành hai loại gồm: loại được quản lý bởi mạng di động (có kiểm soát - Controlled) và loại có thể tự hoạt động (tự chủ - Autonomous). OBD có kiểm soát được đề xuất để cải thiện độ tin cậy của truyền thông ngoài băng bằng cách sử dụng MBS làm thiết bị điều khiển trung tâm. Quản lý giao tiếp giữa hai băng tần khác nhau là một vấn đề quan trọng của OBD. Việc sử dụng phổ không được cấp phép yêu cầu thiết bị đầu cuối phải có thêm một giao diện bổ sung và thường áp dụng các công nghệ không dây khác như WiFi Direct, ZigBee hoặc Bluetooth.
Tuy nhiên, truyền thông OBD có thể bị ảnh hưởng bởi bản chất không được kiểm soát của phổ không được cấp phép. Cần lưu ý rằng chỉ các thiết bị di động có hai giao diện không dây (ví dụ: LTE và WiFi) mới có thể sử dụng OBD và khi đó người dùng có thể sử dụng liên lạc di động và D2D đồng thời. HVTH: Lâm Văn Việt 9 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Hoàng Trang – TS.
OBD có kiểm soát Trong các nghiên cứu này [27], [35], các tác giả đề xuất sử dụng các tính năng quản lý nâng cao của mạng di động để kiểm soát truyền thông D2D nhằm cải thiện hiệu quả và độ tin cậy của truyền thông D2D. Chúng nhằm mục đích cải thiện hiệu suất hệ thống về thông lượng, hiệu quả sử dụng công suất, phát đa hướng, v. Ví dụ về trường hợp này là nghiên cứu đề xuất hình thành các cụm giữa những người dùng di động trong phạm vi kết nối WiFi [36]. Sau khi cụm được hình thành, chỉ thành viên cụm có chất lượng kênh di động cao nhất (tức là cụm trưởng) giao tiếp với MBS.
Cụm trưởng cũng chịu trách nhiệm chuyển tiếp lưu lượng di động của các máy khách của nó (nghĩa là những người dùng khác thuộc cùng một cụm) đến MBS. OBD tự chủ Truyền thông OBD tự chủ thường được thúc đẩy nhờ giảm thiểu chi phí hoạt động của mạng di động. Nó không yêu cầu bất kỳ thay đổi nào ở mạng di động hoặc tại trạm gốc MBS và do đó có thể triển khai dễ dàng, điều đó có nghĩa là các giao tiếp OBD tự chủ có thể được người dùng điều phối. Hiện nay, có rất ít nghiên cứu thuộc thể loại này.
Các giao diện OBD tự chủ này có thể là Bluetooth hoặc Wi-Fi trực tiếp.3 Đánh giá giữa IBD và OBD Phần lớn các nghiên cứu đề xuất sử dụng lại tài nguyên di động cho truyền thông D2D (tức là IBD). Tuy nhiên, truyền thông OBD cũng được quan tâm nghiên cứu trong vài năm qua.