CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN PHÂN TÍCH NGỮ NGHĨA HÌNH ẢNH Trong những năm gần đây, dữ liệu hình ảnh đã gia tăng một cách nhanh chóng cả về dung lượng lẫn về thể loại. Các dữ liệu hình ảnh đều phục vụ cho nhiều lĩnh vực quan trọng trong cuộc sống như trong các hệ thống giao thông, an ninh, y tế,. Vì thế việc phân tích một lượng lớn dữ liệu ảnh để nhận dạng, phân loại và tìm kiếm đóng vai trò hết sức quan trọng trong các hệ thống đa phương tiện. Các nhà khoa học trong thập kỷ qua đã đề xuất rất nhiều phương pháp tiếp cận hiệu quả cho tìm kiếm hình ảnh đang có xu hướng trở nên phổ biến.
Với nguồn tài nguyên ảnh vô cùng to lớn trên mạng internet, thì việc tìm kiếm chính xác một bức ảnh đúng với yêu cầu của người dùng đối với thế hệ Web 2.0 đang gặp nhiều khó khăn. Chúng ta khó có thể tìm kiếm một bức ảnh theo cách thông thường, có nghĩa là việc tìm kiếm được thực hiện lần lượt trên từng tấm ảnh cho đến khi tìm thấy đúng ảnh có nội dung cần tìm. Hơn nữa, theo sự phát triển của công nghệ số, nguồn tài nguyên ảnh trên mạng internet ngày càng nhiều. Do đó, nhu cầu thật sự đòi hỏi chúng ta phải có một công cụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm ảnh chính xác là hết sức thiết thực trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.
Vì vậy, sự ra đời của Web ngữ nghĩa [6] đã mở ra một bước tiến của công nghệ Web. Web ngữ nghĩa (Web 3.0) là bước tiến lớn so với kỹ thuật của Web 2.0 về khả năng làm việc với thông tin thay vì chỉ đơn thuần là lưu trữ, cùng với xử lý ngôn ngữ tự nhiên, trí thông minh nhân tạo,… đã giúp cho web ngữ nghĩa có cấu trúc hoàn chỉnh và mang ngữ nghĩa mà máy tính có thể “hiểu” được. Những thông tin này, có thể được sử dụng lại mà không cần qua các bước tiền xử lý. Khi sử dụng các máy tìm kiếm thông thường (Google, Yahoo…), tìm kiếm thông tin trên Web ngữ nghĩa sẽ không tận dụng được những ưu điểm vượt trội của Web ngữ nghĩa, kết quả trả về không có sự thay đổi.
Nói theo một cách khác thì với các máy tìm kiếm hiện tại Web ngữ nghĩa hay Web thông thường chỉ là một. 5 Luan van Do vậy, cần thiết có một hệ thống tìm kiếm ngữ nghĩa (Semantic Search) tìm kiếm trên Web ngữ nghĩa hay trên một mạng tri thức mang ngữ nghĩa, kết quả trả về là các thông tin có cấu trúc hoàn chỉnh mà máy tính có thể “hiểu” được, nhờ đó việc sử dụng hay xử lý thông tin trở nên dễ dàng hơn. Quá trình truy xuất và hiển thị hình ảnh có liên quan dựa trên các truy vấn của người dùng từ web hoặc cơ sở dữ liệu hình ảnh. Nói chung các phương pháp truy xuất hình ảnh được phân thành ba loại kỹ thuật chính bao gồm tìm kiếm dựa trên đặc trưng văn bản đi kèm ảnh, dựa trên đặc trưng nội dung ảnh và tìm kiếm ảnh theo ngữ nghĩa với vai trò của ontology trong việc sử dụng bản thể học miền (domain ontology) cụ thể để truy xuất hình ảnh có liên quan đến truy vấn của người dùng.
Ontology được coi là trọng tâm của web ngữ nghĩa và sẽ là kỹ thuật chính trong tìm kiếm ảnh theo tiếp cận ngữ nghĩa. Đặc trưng văn bản đi kèm ảnh Mỗi ảnh trên web thường có các văn bản đi kèm như là tên ảnh (title), các thẻ (tags), bình luận (comment),…để mô tả các thông tin về ảnh, đây là các dữ liệu mô tả về ảnh (metadata). Các dữ liệu này thường do người dùng tạo ảnh gắn cho mỗi ảnh, vì vậy chúng đều mang một ý nghĩa nhất định. Độ quan trọng của các loại siêu dữ liệu khác nhau cũng khác nhau.
Ví dụ, các thẻ thường quan trọng hơn tên ảnh, tên ảnh quan trọng hơn bình luận. Dưới đây là một ví dụ về văn bản đi kèm một ảnh: • Title: “Red_Rose Flower” • Tags: “redRoseflower, hongkongflowershow, 2009, bokeh, ausewaybay, hongkong, jonnoj, jonbinalay, nikond80, interestingness50” • Description: “HEAVEN SCENT".FOR THE LOVE OF THE RED ROSE. • Content: 6 Luan van Hình 1.1: Ví dụ hiển thị một ảnh Vì văn bản đi kèm ảnh mang ngữ nghĩa về nội ảnh cho nên hai bức ảnh có nội dung giống nhau thường có tên giống nhau và các thẻ tương tự nhau. Vì vậy, các công cụ tìm kiếm ảnh theo văn bản đi kèm thường tập trung khai thác nội dung của các văn bản này để tìm kiếm và xếp hạng ảnh.
Phương pháp này cho kết quả khả quan cũng như đáp ứng nhanh nhu cầu của người sử dụng. Tuy nhiên, với các câu truy vấn mang ý nghĩa nhập nhằng có thể các kết quả trả về sẽ không đúng với yêu cầu đặt ra. Ví dụ khi truy vấn là “d-80”, một máy ảnh phổ biến của Nikon, thì các hệ thống trả về kết quả khá tốt như Hình 1.2 kết quả với truy vấn máy ảnh Nikon “d-80”.2: Ví dụ truy vấn “d-80” của Google 7 Luan van Tuy nhiên, với truy vấn “apple’, nếu người dùng muốn tìm quả táo thì kết quả trả về đầu tiên không thỏa mãn (logo của hãng Apple) như Hình 1.3 kết quả với truy vấn “Apple”.3: Ví dụ truy vấn “Apple” của Google Mặt khác, các albumn cá nhân thường không có các thẻ hoặc văn bản đi kèm ảnh. Cùng với số lượng ảnh số được chụp thêm mỗi ngày, việc gán thủ công các thẻ cho ảnh rất tốn kém.
Một hướng nghiên cứu nhằm khắc phục vấn đề trên là tìm kiếm theo chính các đặc trưng trích xuất từ nội dung của ảnh. Đặc trưng nội dung ảnh Các đặc trưng phổ biến nhất được sử dụng là màu sắc, kết cấu và hình dạng. Tìm kiếm ảnh theo nội dung (CBIR) hay truy vấn theo nội dung ảnh (QBIC) là một ứng dụng của thị giác máy tính đối với bài toán tìm kiếm ảnh. Dựa vào nội dung ảnh việc tìm kiếm sẽ phân tích nội dung thực sự của các bức ảnh.
Nội dung ảnh ở đây được thể hiện bằng màu sắc, hình dạng, kết cấu (texture), các đặc trưng cục bộ (local features),… hay bất cứ thông tin nào có từ chính nội dung ảnh với một số đặc trưng [7]: - Đặc trưng màu sắc: Màu sắc là một đặc trưng nổi bật và được sử dụng phổ biến nhất trong tìm kiếm ảnh theo nội dung. Đây là phương pháp đơn giản, tốc độ tìm kiếm 8 Luan van tương đối nhanh tuy nhiên kết quả tìm kiếm có độ chính xác không cao. Mỗi một điểm ảnh (thông tin màu sắc) có thể được biểu diễn như một điểm trong không gian màu sắc ba chiều. Trong đó, lược đồ màu RGB được sử dụng phổ biến nhất.
Tìm kiếm ảnh theo màu sắc tiến hành tính toán biểu đồ màu cho mỗi ảnh để xác định tỉ trọng các điểm ảnh của ảnh mà chứa các giá trị đặc biệt (màu sắc). Các nghiên cứu gần đây đang cố gắng phân vùng ảnh theo các màu sắc khác nhau và tìm mối quan hệ giữa các vùng này. - Đặc trưng kết cấu: Hiện tại, vẫn chưa có một khái niệm chính thức cụ thể về kết cấu. Kết cấu là một đối tượng dùng để phân hoạch ảnh ra thành những vùng quan tâm để phân lớp những vùng đó.
Kết cấu cung cấp thông tin về sự sắp xếp về mặt không gian của màu sắc và cường độ một ảnh. Kết cấu được đặc trưng bởi sự phân bổ không gian của những mức cường độ trong một khu vực láng giềng với nhau. Kết cấu gồm các kết cấu gốc hay nhiều kết cấu gộp lại đôi khi còn gọi là texel.4: Ví dụ về một số lọai kết cấu Kết cấu được biểu diễn bởi các texel mà sau đó được đặt vào một số các tập phụ thuộc vào số kết cấu được phát hiện trong ảnh. Các tập này không chỉ xác định các kết cấu mà còn chỉ rõ vị trí các kết cấu trong ảnh.
Việc xác định các kết cấu đặc biệt trong ảnh đạt được chủ yếu bằng cách mô hình các kết cấu như những biến thể cấp độ xám 2 chiều. Ví dụ về một số loại kết cấu như Hình 1. 9 Luan van - Đặc trưng hình dạng: Hình dạng của một ảnh hay một vùng là một đặc trưng quan trọng trong việc xác định và phân biệt ảnh trong nhận dạng mẫu. Mục tiêu chính của biểu diễn hình dạng trong nhận dạng mẫu là đo thuộc tính hình học của một đối tượng được dùng trong phân lớp, so sánh và nhận dạng đối tượng.
Màu sắc và kết cấu là những thuộc tính có khái niệm toàn cục trong một ảnh. Trong khi đó, hình dạng không phải là một thuộc tính của ảnh. Nói tới hình dạng không phải là nhắc đến hình dạng của một ảnh. Thay vì vậy, hình dạng có khuynh hướng chỉ đến một khu vực đặc biệt trong ảnh, hay hình dạng chỉ là biên của một đối tượng nào đó trong ảnh.
Trong tìm kiếm ảnh theo nội dung, hình dạng là một cấp cao hơn so với màu sắc và kết cấu. Nó đòi hỏi sự phân biệt giữa các vùng để tiến hành xử lý về độ đo của hình dạng. Các hệ thống tìm kiếm ảnh theo nội dung thường khai thác hai nhóm biểu diễn hình dạng sau: + Biểu diễn hình dạng theo đường biên: Biểu diễn các đường biên bao bên ngoài + Biểu diễn theo vùng: Biểu diễn một vùng toàn vẹn. Tìm kiếm ảnh theo mẫu (example-based image search) Tìm kiếm ảnh theo mẫu là một dạng của tìm kiếm ảnh dựa vào nội dung.
Trong hệ thống đó, đầu vào là một ảnh, hệ thống tìm kiếm và trả lại cho người dùng những ảnh tương đồng với ảnh mẫu. Hướng tiếp cận theo ngữ nghĩa hình ảnh Trong phần trên đã đề cập đến 2 kỹ thuật đặc trưng là đặc trưng văn bản đi kèm ảnh và đặc trưng nội dung ảnh cho nục đích tìm kiếm hình ảnh dựa trên văn bản và dựa trên nội dung. - Trong tìm kiếm dựa trên văn bản đi kèm với ảnh, các hình ảnh được tìm kiếm thông qua việc kết hợp các truy vấn của người dùng và chú thích từ khoá. Mô tả về hình ảnh thường do người dùng cung cấp.
Hệ thống tìm kiếm dựa trên từ khoá khớp với tìm 10 Luan van kiếm văn bản của người dùng để mô tả văn bản của hình ảnh và trả lại tất cả các hình ảnh có mô tả phù hợp. Tuy nhiên, phương pháp tìm kiếm ảnh dựa trên văn bản hoặc các mô tả (meta-data) kèm theo ảnh sẽ không chính xác khi các mô tả này bị sai sót hoặc không tồn tại, có thể các kết quả trả lại có chứa hình ảnh không liên quan.