Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp, dữ liệu nghiên cứu và thống kê mô tả Chương 4: Kết quả nghiên cứu và giải thích Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 123doc 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Nền tảng lý thuyết nghiên cứu 2.1 Khái niệm về nợ xấu của các Ngân hàng thƣơng mại Trên thế giới hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu tuy nhiên nợ xấu “Nonperforming loans” có thể được hiểu là các khoản nợ không thực hiện hoặc thực hiện thanh toán gốc và lãi trễ so với kỳ hạn được chủ nợ quy định hoặc các khoản nợ nghi ngờ bị mất vốn hay khả năng thanh toán của khách hàng. Trong đó một số quan điểm về nợ xấu phổ biến được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervison): Các khoản nợ được xem là không có khả năng chi trả khi một trong hai hoặc cả hai sự kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng nhận thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa có bất cứ hành động gì để cố gắng thu hồi khoản nợ; (ii) Người vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi trên 90 ngày. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF – International Moneytary Fund): “Nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế. Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS – International Acounting Standards): Thường đề cập đến các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử 123doc 5 dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL. Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 vào đầu tháng 12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất chất lượng do nợ xấu gây ra.
Cơ bản IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp này để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc xếp hạng khoản vay. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Tại Việt Nam: khái niệm về nợ xấu xuất hiện lần đầu tiên tại quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam.
Thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN thì nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên. Kết luận: Như vậy theo các khái niệm về nợ xấu được nêu ra trên thế giới và tại Việt Nam thì nợ xấu được xác định căn cứ trên hai yếu tố cơ bản đó là: (i) Các khoản cho vay quá hạn thanh toán gốc và lãi từ 90 ngày trở lên; (ii) Nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ gốc và lãi khoản vay của khách hàng đối với khoản cho vay khi đến hạn. Trong bài nghiên cứu nợ xấu được nhắc đến là tỷ lệ các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dư nợ cho vay.2 Rủi ro đạo đức Theo Dembe và Boden (2000) thì thuật ngữ moral hazard (rủi ro đạo đức) được các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Anh quốc đặt ra từ thế kỷ 17. Vào thập niên 1960, các nhà kinh tế học Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng thường xuyên thuật ngữ moral hazard để chỉ tình trạng kém hiệu suất nảy sinh từ loại rủi ro như trên.
Sau này, thuật ngữ moral hazard được sử dụng trong bối cảnh nhấn mạnh các yêu tố tâm lý hơn. “Trong kinh tế học, rủi ro đạo đức xuất hiện khi một người chấp nhận nhiều rủi ro hơn bởi vì một ai khác gánh chịu chi phí cho những rủi ro đó. Rủi ro đạo đức có thể xuất hiện khi hành động của một bên có thể thay đổi để gây thiệt hại cho người khác sau khi một giao dịch tài chính đã diễn ra. Một bên quyết định có bao nhiêu rủi ro để thực hiện, trong khi một bên khác gánh chịu chi phí nếu mọi thứ trở nên xấu đi, và một bên bị cô lập khỏi rủi ro khác với cách thức mà nó sẽ phải chịu rủi ro”.
(Collins Dictionary of Business: moral hazard.) Collins Dictionary of Business, 3rd ed. Các giám đốc ngân hàng có thể có những khuyến khích hay động cơ để thực hiện cho vay với rủi ro cao hơn so với mức tối ưu. Jensen và Meckling (1976) cho rằng có hai loại vấn đề rủi ro đạo đức nảy sinh từ hành vi này. Thứ nhất, đó là việc tìm kiếm đặc lợi của nhà quản lý, thực hiện khi các giám đốc theo đuổi các lợi ích cá nhân của họ bởi việc đầu tư vào các dự án ưa thích hoặc thông qua việc kiểm soát không đầy đủ những khoản vay.
Vấn đề rủi ro đạo đức còn lại nảy sinh từ sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các chủ nợ. Các cổ đông có thể muốn thực hiện những khoản vay rủi ro nhưng cuối cùng lại chuyển những rủi ro này đến những người gửi tiền. Lý thuyết Jensen và Meckling (1976) hàm ý rằng cả hai vấn đề rủi ro đạo đức trên đều dẫn đến tốc độ tăng trưởng nợ vay (tín dụng) cao hơn và một lượng lớn các khoản nợ xấu. 123doc 7 Dĩ nhiên, rủi ro đạo đức không quan sát trực tiếp được nhưng có thể được suy ra từ việc quan sát hành vi của ngân hàng.
Như đã được nhấn mạnh ở trên, một trong những lý do chính của vấn đề rủi ro đạo đức là chấp nhận rủi ro quá mức trong cho vay.3 Hệ thống ngân hàng thƣơng mại và các quy định Trước năm 1975 Việt Nam tồn tại hai ngân hàng trung ương một ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa (Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau đổi thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) và một ở Miền Nam cộng hòa (Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hòa). Thời kỳ 1975-1985 là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam; thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc; phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường.
Giai đoạn 1986 - 1990 đứng trước thực trạng khó khăn trì trệ trong kinh tế và hệ thống tài chính cả nước hệ thống ngân hàng đã bắt đầu có những cải cách đầu tiên, làm tiền đề cho việc hình thành và phát triển một hệ thống Ngân hàng Việt Nam một cách căn bản và toàn diện hơn. Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh. Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính. Sự ra đời của 2 Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp.
Trong đó, cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng. Và cấp 2 là các ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng 123doc 8 trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện như ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân và công ty tài chính. Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013), làm rõ hơn địa vị pháp lý của NHNN, đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Tính đến thời điểm 31/12/2016 Việt Nam có 31 NHTMCP trong nước, 2 NH chính sách, 4 NHTM Nhà nước, 8 NHTM 100% vốn nước ngoài, 2 NHTM liên doanh, 1 Ngân hàng hợp tác xã với trên 2.600 chi nhánh và phòng giao dịch trên khắp 64 tỉnh thành cả nước.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, sau hơn 30 năm chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.