Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI: Giới thiệu về bài toán, những vấn đề còn tồn đọng và mục tiêu, giới hạn, ý nghĩa của luận văn. • Chương 2: CƠ SỞ KIẾN THỨC: Nói về cơ sở kiến thức cơ bản đã được sử dụng trong luận văn như ANN, HMM, phương pháp weak supervision. • Chương 3: CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN: Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả liên quan mật thiết đến bài toán nhận diện thực thể trong văn bản và phương pháp weak supervision. • Chương 4: TRÌNH BÀY, ĐÁNH GIÁ, BÀN LUẬN KẾT QUẢ: Trình bày về thí nghiệm đã tiến hành với phương pháp weak supervision trong văn bản tiếng Việt với bài toán nhận diện thực thể.
• Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG ĐỀ TÀI: Tổng kết các đóng góp của luận văn, các vấn đề còn tồn tại và nói về hướng nghiên cứu trong tương lai. 5 Chương 2 Cơ sở kiến thức 2.1 Mô hình Artificial Neural Network - ANN Mô hình Artificial Neural Network[2] hay còn gọi là mạng nơ-ron nhân tạo là một mô hình toán học hay mô hình tính toán dựa trên cấu trúc và cách hoạt động của mạng nơ-ron sinh học ở người và động vật.1: Nơ-ron sinh học Một tế bào nơ-ron thường sẽ bao gồm các thành phần chính: • Dendrite: giúp tế bào nhận tín hiệu từ các tế bào thần kinh khác. • Soma (thân tế bào): làm nhiệm vụ tổng hợp tất cả các tín hiệu từ các đầu vào. • Axon: khi tín hiệu tổng hợp đạt đến giá trị ngưỡng, nơ-ron kích hoạt và tín hiệu được truyền xuống sợi trục đến các nơ-ron khác.
6 • Axon terminals: Điểm kết nối của một tế bào thần kinh với các tế bào thần kinh khác. Lượng tín hiệu được truyền phụ thuộc vào cường độ (trọng số của khớp thần kinh) của các kết nối. Mô phỏng theo cấu tạo của tế bào thần kinh, perceptron là một thành phần cơ bản trong mạng ANN, nhận các giá trị đầu vào và cho ra một kết quả duy nhất. Các giá trị đầu vào x1 , x2 , x3.
có tính quan trọng khác nhau, sẽ lần lượt được nhân với các trọng số tương ứng w1 , w2 , w3. Sau đó được cộng lại ra một kết quả z. Và cuối cùng z được đưa vào một hàm kích hoạt (activation function) để tạo ra kết quả cuối cùng y cho perceptron.2: Perceptron Chi tiết hơn, công thức tính toán kết quả z: d z = ∑ wi xi = wT x (2.1) i=0 Để tính được một kết quả cuối cùng, z phải được đưa vào một hàm kích hoạt, hàm này là một hàm phi tuyến như hàm sigmoid, tanh, ReLU.3: Một số hàm kích hoạt Mạng nơ-ron nhân tạo là sự kết hợp các tầng perceptron tạo thành mạng nhiều đa tầng perceptron (multiple-layer perceptron). Một kiến trúc cơ bản của mô hình ANN bao gồm: • Tầng đầu vào (input layer): là tầng nhậ dữ liệu đầu vào của mạng.
• Tầng đầu ra (output layer): là tầng sẽ trả về kết quả sau khi tính toán của mạng. • Tầng ẩn (hidden layer): là tầng nằm giữa tầng đầu vào và tầng đầu ra thể hiện cho việc suy luận logic của mạng. Một mạng nơ-ron nhân tạo chỉ có 1 tầng đầu vào và 1 tầng đầu ra nhưng có thể có nhiều tầng ẩn. Trong mô hình ANN, ở mỗi nút mạng có thể sử dụng các hàm kích hoạt khác nhau, tuy nhiên trong thực tế thường chỉ sử dụng một hàm kích hoạt.
Ở mỗi tầng, số lượng nút mạng là bất kỳ, và không có giới hạn đối với số lượng tầng trong mạng.4: Kiến trúc cơ bản mô hình ANN 8 2.2 Mô hình Hidden Markov Models - HMM Hidden Markov Models hay còn gọi mô hình Markov ẩn là một mô hình thống kê dựa trên chuỗi Markov. Một chuỗi Markov là một mô hình cho biết thông tin về xác suất của một chuỗi các biến ngẫu nhiên mà các biến này với giá trị là các trạng thái, ví dụ như trạng thái thời tiết của mỗi ngày như: mưa, nắng, có mây. Chuỗi Markov mang lại khả năng dự đoán giá trị trạng thái tương lai trong chuỗi, tất cả những gì quan trọng là trạng thái hiện tại. Các trạng thái trước trạng thái hiện tại không có tác động đến tương lai ngoại trừ thông qua trạng thái hiện tại.
Chẳng hạn như để dự đoán thời tiết ngày mai, ta có thể kiểm tra thời tiết của ngày hôm nay nhưng ta không được phép xem thời tiết của ngày hôm qua.5: Ví dụ về chuỗi markov và ma trận chuyển đổi trạng thái Một chuỗi Markov sẽ bao gồm 3 thành phần: • Không gian trạng thái: là một tập hợp S các trạng thái của một chuỗi Markov. Ví dụ như S = {mưa, nắng, có mây} • Ma trận chuyển xác suất (transition probability matrix): là một ma trận A thể hiện cho xác suất chuyển giữa các trạng thái trong chuỗi Markov. • Phân phối ban đầu (initial probability distribution): tập hợp xác suất của từng trạng thái, πi là xác suất mà chuỗi Markov có thể bắt đầu với trạng thái i. 9 Mô hình Markov ẩn không trực tiếp tính toán trên các trạng thái như chuỗi Markov, mà tính toán thông qua các chuỗi các sự kiện quan sát được.
Ví dụ như trong thực tế ta thường không thể nhìn thấy trực tiếp các thực thể trong câu, mà ta chỉ thấy thể hiện qua các từ. Một mô hình Markov ẩn sẽ bao gồm các thành phần: • Các quan sát: là một chuỗi các quan sát O = (o1 , o2 , ., on ) thu thập dựa trên quan sát thực tế. • Chuỗi Markov ẩn: là một chuỗi Markov nhưng không quan sát được trong thực tế. • Xác suất phụ thuộc trạng thái (emission probability): biểu diễn cho xác suất một quan sát ot đến từ trạng thái ẩn st , tập hợp tất cả các xác suất này là B = bi (oi ).6: Ví dụ về mô hình HMM Thông thường, mô hình Markov ẩn được phân loại thành ba vấn đề cơ bản: likelihood, decoding và learning.
Decoding: Nhận vào chuỗi quan sát O và một mô hình HMM λ = (A, B), tìm ra chuỗi trạng thái ẩn tốt nhất Q Learning: Nhận vào chuỗi quan sát O và một tập các trạng thái trong HMM, học các thông số của mô hình HMM A và B.3 Phương pháp Weak Supervision Học giám sát yếu (Weak Supervision) là một nhánh của học máy trong đó các nguồn nhiễu, hạn chế hoặc không chính xác được sử dụng để cung cấp thông tin giám sát nhằm gắn nhãn một lượng lớn dữ liệu huấn luyện trong việc cài đặt học có giám sát. Cách tiếp cận này giảm bớt gánh nặng của việc thu thập các tập dữ liệu được gắn nhãn bằng tay, vốn có thể tốn kém hoặc không thực tế. Thay vào đó, các nhãn yếu rẻ tiền được sử dụng với sự hiểu biết rằng chúng không hoàn hảo, nhưng vẫn có thể được sử dụng để tạo ra một mô hình dự đoán có hiệu suất tốt. Một trong những kết quả chính của học giám sát yếu đó việc tạo ra các nhãn yếu.
Và data programming[3] là một phương pháp nổi tiếng đã được đề xuất để hỗ trợ việc tạo ra nhãn yếu. Bằng việc sử dụng kết hợp giữa lập trình và các heuristic, data programming có thể gán nhãn cho toàn bộ tập dữ liệu. Sau khi có được nhãn từ các nguồn heuristic khác nhau, label model (aggregation model) là mô hình được sử dụng nhằm tổng hợp ra nhãn yếu. Cuối cùng, dựa vào tập dữ liệu với nhãn yếu này, một mô hình với sức mạnh tổng quát hóa - end model, được huấn luyện trên các nhãn yếu với mục tiêu có thể ứng dụng trong các tác vụ thực tế.
Tóm lại, có ba bước chính để hiện thực weak supervision trên một tập dữ liệu: 1. Viết các label function (lf): một label function có thể là một function bất kỳ được viết bằng một ngôn ngữ lập trình, nhận vào một mẫu dữ liệu và sử dụng một luật, heuristic, logic. để sinh ra nhãn cho mẫu dữ liệu đó. Tổng hợp các nhãn yếu với label model: giả sử ta có m dòng dữ liệu và n label function, khi thực thi thì tất cả có m × n nhãn được sinh ra (với điều kiện một label function sẽ sinh ra duy nhất một nhãn cho một mẫu dữ liệu).
Như vậy, cần phải tổng hợp kết quả của n label function để cuối cùng chỉ có một nhãn cho một mẫu dữ liệu. Mô hình Majority Voting là một trong những cách tổng hợp nhãn đơn giản nhất. Tuy nhiên, có một số mô hình khác tốt hơn được đề xuất để học được các cấu trúc ẩn giữa các label function mà không cần đến 11 nhãn như hidden markov model. Huấn luyện end model: kết quả của label model được sử dụng như là tập huấn luyện nhằm để tinh chỉnh các mô hình cuối.
Những mô hình này thường sử dụng các mô hình học sâu như LSTM, GRU, BERT. với sức mạnh tổng quát hóa vốn rất hiệu quả trên các dữ liệu nhiễu, sẽ được huấn luyện và được sử dụng cho các tác vụ thực tế.7: Phương pháp Weak Supervision 12 Chương 3 Công trình nghiên cứu liên quan Nhận dạng thực thể trong văn bản là một tác vụ đã xuất hiện từ lâu và đạt được rất nhiều thành tựu trong những công trình nghiên cứu đến từ các hướng tiếp cận khác nhau: Hình 3.1: Sự phát triển của các phương pháp từ Expert System (Rule base) cho đến Machine Learning Representation Learning 3.1 Hướng tiếp cận rule based Các hệ thống NER dựa trên knowledge based hay rule based không cần các dữ liệu huấn luyện do những hệ thống này sử dụng nguồn về từ vựng và các 13 tri thức hay tập luật được thu thập của một lĩnh vực. Chẳng hạn như KNOW- ITALL[1] là một hệ thống tự động hóa quá trình trích xuất thông tin từ các tập hợp lớn trên Web một cách không giám sát, độc lập với lĩnh vực và có khả năng mở rộng. KNOWITALL tập trung vào một vấn đề con của việc trích xuất thông tin, đó là xây dựng danh sách các thực thể được đặt tên được tìm thấy trên Web, chẳng hạn như các trường hợp của lớp City hoặc lớp Film.
Một trong những kỹ thuật được sử dụng trong hệ thống này là pattern matching, dựa trên những pattern được định nghĩa trước, hệ thống sẽ tự động trích xuất ra thực thể tương ứng. Ví dụ như pattern “NP1 such as NPList2” chỉ ra rằng với mỗi một phần tử cụm danh từ (NP) nằm trong NPList2 sẽ thuộc về cùng một loại thực thể của NP1. Khi thực thi pattern trên câu "We provide tours to cities such as Paris, London, and Berlin”, KNOWITALL sẽ trích xuất ra được 3 thực thể thành phố gồm Paris, London và Berlin.