Đặt vấn đề Sử dụng kỹ thuật nhận dạng mặt người trong giám sát an ninh ngày càng được quan tâm hơn. Ngày 1/8/2017, cảnh sát Đức đã lần đầu tiên triển khai lắp đặt thử nghiệm các máy quay (camera) nhận dạng khuôn mặt tại các nhà ga tàu điện chính tại thủ đô Berlin sau nhiều vụ khủng bố tại các khu vực tập trung đông người xảy ra ở nước Đức và một số quốc gia lân cận. Với công nghệ mới này, cảnh sát Đức có thể phát hiện, theo dõi và bắt giữ tội phạm cũng như các đối tượng bị tình nghi khủng bố.1: Hệ thống nhận dạng khuôn mặt theo thời gian thực Công nghệ nhận diện khuôn mặt (Facial Recognition Technology) hiện là một công nghệ đang được sử dụng khá phổ biến tại các quốc gia phát triển. Công nghệ này có khả năng xác định hoặc xác nhận một người từ hình ảnh kỹ thuật số được lấy mẫu trước đó hoặc từ một khung hình trong một nguồn video khác.
Tiết kiệm thời gian và tài nguyên với khả năng xử lý nhanh và mạnh mẽ nếu kết hợp với công nghệ AI (Trí tuệ nhân tạo). Công nghệ nhận diện khuôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 9 mặt là công nghệ sinh trắc học ít tác động đến người dùng nhất và là công nghệ sinh trắc học nhanh nhất hiện nay. Hệ thống nhận dạng có thể giúp nhà quản lý chủ động hơn trong việc kiểm soát, hệ thống nhận dạng có thể nhận diện khuôn mặt một cách kín đáo bằng cách chụp ảnh khuôn mặt bất cứ ai bước vào khu vực được xác định từ camera giám sát, không gây phiền hà hay phải yêu cầu người đó dừng lại để tương tác, xác nhận khi đi vào khu vực giám sát. Bài toán nhận dạng khuôn mặt người trong giám sát an ninh bao gồm hệ thống các camera, hệ thống máy tính chạy chương trình phát hiện và nhận dạng thông qua tập dữ liệu hình ảnh rất lớn để huấn luyện “học máy”.
Nguồn dữ liệu đầu vào là các frame (khung hình) thu được từ máy quay an ninh. Quá trình lấy mẫu bằng các camera giám sát hoặc bằng một thiết bị có cùng chức năng lưu trữ lại để làm cơ sở so sánh. Các dữ liệu được lấy mẫu sẽ được trích xuất từ hình ảnh, các mẫu (quá trình phân tích). Các dữ liệu thu được (qua camera giám sát) được đem so sánh với các dữ liệu trong cơ sở dữ liệu.
Dữ liệu ra là kết quả nhận dạng khuôn mặt với đối tượng người cụ thể trong cơ sở dữ liệu. Hệ thống sau đó sẽ quyết định kết quả so sánh có phù hợp hay không và đưa ra thông báo. Khi người dùng đi vào vùng quét của camera, hệ thống sẽ tự động xác định vùng hình ảnh khuôn mặt và thực hiện các thuật toán để tách vùng khuôn mặt khỏi khung hình và tiến hành chuẩn hóa hình ảnh, sau đó trích xuất các dữ liệu đặc trưng của hình ảnh khuôn mặt đó. Độ chính xác phụ thuộc nhiều vào vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như ánh sáng, vùng che khuất, biểu cảm và trang phục, góc độ của đối tượng trên khung hình thu được từ camera.
Ngoài ra chất lượng hình ảnh của đầu vào, camera là rất quan trọng như độ sắc nét, độ tương phản hay noise nhiễu gây ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động phát hiện và nhận dạng khuôn mặt từ camera giám sát. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 10 Thành phần chức năng của một hệ thống phát hiện và nhận dạng khuôn mặt qua camera - Thu thập (Capture) hình ảnh từ camera: Hình ảnh từ camera được tách thành từng khung hình và được biểu diễn dưới dạng số hóa. - Xử lý trích chọn đặc trưng (Feature Extraction) phát hiện, đánh dấu vùng hình ảnh xuất hiện khuôn mặt và xử lý mẫu của khuôn mặt phục vụ quá trình so sánh, đối chiếu với cơ sở dữ liệu hoặc là nguồn dữ liệu ban đầu cho qua trình học máy huấn luyện mẫu. - Học máy “huấn luyện” với tập dữ liệu mẫu đầu vào xây dựng cơ sở dữ liệu mẫu để phục vụ quá trình phân loại, so sánh và phân lớp kết quả với mẫu trong cơ sở dữ liệu đối sánh.
- So sánh tiên đoán (predict) và quyết định (Decion): Sau khi xử lý trích chọn đặc trưng, dữ liệu của khung hình được đưa qua chức năng so sánh với các mẫu trong cơ sở dữ liệu (predict). Quá trình so sánh và đưa ra ngưỡng trùng khớp với các trường hợp có trong cơ sở dữ liệu mẫu. Tỉ lệ chính xác chỉ định thông qua chỉ số ngưỡng (giá trị chấp nhận được). Quyết định kết quả của đối tượng xuất hiện trên khung hình được trích chọn ra là người được định danh hoặc không có trong cơ sở dữ liệu.
- Sơ đồ khối của quá trình phát hiện và nhận dạng khuôn mặt từ hình ảnh, camera như sau: Hình ảnh Phát hiện Trích chọn vùng đầu vào khuôn mặt ảnh khuôn mặt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Khớp các c ảnh Lưu hình Lưu trữ những 11 Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ khối của hệ thống phát hiện và nhận dạng khuôn mặt KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong nhiều năm qua, lĩnh vực thị giác máy đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ. Ứng dụng của thị giác máy tính trong các lĩnh vực công nghệ và đời sống ngày càng phổ biến. Trong Chương 1 đã giới thiệu khái quát về lĩnh vực phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 12 hiện và nhận dạng khuôn mặt người. Để bao quát được đòi hỏi người nghiên cứu phải tìm hiểu chuyên sâu hơn nữa.
Lĩnh vực phát hiện và nhận dạng mặt người chỉ là một đối tượng nhỏ trong Thị giác máy tính nhưng ngày nay nó càng được để ý quan tâm đến nhiều hơn. Các phương pháp phát hiện và nhận dạng phổ biến sẽ được em trình bày ở chương tiếp theo. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ KỸ THUẬT LỰA CHỌN, TRÍCH RÚT ĐẶC TRƯNG PHÁT HIỆN VÀ NHẬN DẠNG MẶT NGƯỜI 2.1 Đặc trưng Haar-like Tổng quan về Haar-like Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 13 Đặc trưng Haar-like do Paul Viola và Michael Jones [3] công bố bao gồm 4 đặc trưng cơ bản để xác định mặt người. Đặc trưng Haar-like được tạo thành bằng việc kết hợp các hình chữ nhật màu đen và trắng với nhau theo một trật tự, kích thước nào đó.
Mỗi đặc trưng Haar-like là sự kết hợp của hai hay ba hình chữ nhật “đen” hay “trắng”. Hình dưới đây mô tả 4 đặc trưng Haar-like cơ bản như sau: Hình 2.1: Đặc trưng Haar-like cơ bản.2: Đặc trưng Haar-like biểu diễn ở dạng số - Để sử dụng các đặc trưng này vào việc phát hiện khuôn mặt người, 4 đặc trưng Haar-like cơ bản được mở rộng (bởi Lienhart, Kuranov & Pisarevky, 2002; Lienhart & Maydt, 2002) và được chia thành nhóm các đặc trưng cạnh, đặc trưng đường và đặc trưng xung quanh tâm (Hình 2. Đặc trưng Đặc trưng Đặc trưng quanh tâm cạnh đường (center-surround (edge (line features) features) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn features) c 14 Hình 2.3: Các đặc trưng Haar-like mở rộng Giá trị của đặc trưng Haar-like là sự chênh lệch giữa tổng các điểm ảnh của của các vùng màu đen và các vùng màu trắng theo công thức sau: 𝑓(𝑥) = 𝑻ổ𝒏𝒈𝑣ù𝑛𝑔 đ𝑒𝑛 (𝑝𝑖𝑥𝑒𝑙) − 𝑻ổ𝒏𝒈𝑣ù𝑛𝑔 𝑡𝑟ắ𝑛𝑔 (𝑝𝑖𝑥𝑒𝑙) (2.1) Để tính các giá trị của đặc trưng Haar-like ta phải tính tổng của các vùng pixel trên ảnh. Nhưng để tính toán các giá trị của đặc trưng Haar-like cho tất cả các vị trí trên ảnh đòi hỏi chi phí tính toán khá lớn.
Do đó, Viola và Jones (2001; 2004) đã đưa ra khái niệm ảnh tích phân (Integral Image) để tính toán nhanh giá trị của các đặc trưng Haar-like. Integral Image là một mảng hai chiều có kích thước bằng với kích thước của ảnh cần tính giá trị đặc trưng Haar-like, với mỗi phần tử của mảng này được tính bằng tổng của các điểm ảnh phía trên và bên trái của nó. P(x,y) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.4: Tính giá trị ảnh tích phân tại điểm P có tọa độ (x, y) Giá trị tích phân tại điểm P có tọa độ (x, y) được tính như sau: 𝒊𝒊(𝒙, 𝒚) = ∑ 𝒊(𝒙′ , 𝒚′ ) (2.2) 𝒙′ ≤𝒙,𝒚′≤𝒚 Sau khi đã tính được ảnh tích phân, việc tính tổng các giá trị mức xám của một vùng ảnh bất kỳ nào đó trên ảnh ta thực hiện theo cách sau. Ví dụ tính giá trị của vùng D trong hình dưới như sau: D = A + B + C + D – (A+B) – (A + C) + A (2.5: Tính nhanh tổng các giá trị điểm ảnh của vùng D trên ảnh Với A + B + C + D chính là giá trị tại điểm P4 trên ảnh tích phân, A + B là giá trị tại điểm P2, A + C là giá trị tại điểm P3 và A là giá trị tại điểm P1.
Vì vậy, ta có thể tính lại biểu thức tính D ở trên như sau: D = (x4, y4) – (x2, y2) – (x3, y3) + (x1, y1) (2.4) Để chọn các đặc trưng Haar-like dùng cho việc thiết lập ngưỡng, tạo bộ phân loại thì Viola và Jones sử dụng phương pháp máy học gọi là AdaBoost. AdaBoost sẽ kết hợp các bộ phân loại yếu tạo thành một bộ phân loại mạnh. Với những bộ phân loại yếu thì việc đưa ra câu trả lời chính xác thì chỉ hơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 16 việc đoán ngẫu nhiên một chút, trong khi đó bộ phân loại mạnh có thể đưa ra kết quả chính xác cao hơn nhiều. Áp dụng đặc trưng Haar-like phát hiện khuôn mặt người 2.1 Phương pháp AdaBoost AdaBoost là một bộ phân loại mạnh phi tuyến phức được Freund và Schapire đưa ra vào năm 1995, hoạt động trên nguyên tắc kết hợp tuyến tính các bộ phân loại yếu để tạo nên một bộ phân loại mạnh.
Là một cải tiến của tiếp cận boosting, AdaBoost sử dụng thêm khái niệm trọng số (weight) để đánh dấu các mẫu khó nhận dạng. Trong quá trình huấn luyện, cứ mỗi bộ phân loại yếu (weak classifiers) được xây dựng thì thuật toán sẽ tiến hành cập nhật lại trọng số để chuẩn bị cho việc xây dựng bộ phân loại tiếp theo. Cập nhật bằng cách tăng trọng số của các mẫu nhận dạng sai và giảm trọng số của các mẫu được nhận dạng đúng bởi bộ phân loại yếu vừa xây dựng.