Chương 1. Quy định của các FTA thế hệ mới về nguyên tắc chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam so với những quy định của FTA thế hệ mới về chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. QUY ĐỊNH CỦA CÁC FTA THẾ HỆ MỚI VỀ NGUYÊN TẮC CHẤM DỨT PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỀ VIỆC LÀM VÀ NGHỀ NGHIỆP 1.
Khái quát chung về FTA thế hệ mới Việc tham gia vào các FTA giúp Việt Nam có nhiều cơ hội thực hiện mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế, vừa ổn định nền kinh tế vĩ mô. Bởi lẽ, khi là thành viên của FTA, Việt Nam thu hút được nguồn vốn đầu từ FDI, các hàng hóa xuất khẩu được tăng tính cạnh tranh hơn khi áp dụng thuế suất ưu đãi của FTA và nâng cao chất lượng hơn khi áp dụng những tiêu chuẩn kỹ thuật của nước nhập khẩu, đồng thời thị trường tiêu thụ và bán lẻ trong nước cũng ổn định hơn.4 Tính đến tháng 01/2022, có 15 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên đã có hiệu lực,5 trong đó có hai FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia đã có hiệu lực là Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Khái niệm về FTA thế hệ mới Đầu tiên, để nói về Hiệp định thương mại tự do (FTA), trên thực tế có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, nếu dựa vào mục đích thực hiện thì có thể hiểu Hiệp định thương mại tự do là “thỏa thuận giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các thành viên”, 4 Trần Thị Trang & Đỗ Thị Mai Thanh (2019), “Những tác động nổi bật của FTA thế hệ mới đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia - Kinh tế Việt Nam năm 2018 và triển vọng năm 2019 – Hướng tới chính sách tài khóa bền vững và hỗ trợ tăng trưởng, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.
5 Trung tâm WTO và Hội nhập, “Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 01/2022”, (Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI WTO – FTA Hội nhập kinh tế quốc tế, 19/8/2021), truy cập ngày 17/8/2022, từ cơ sở dữ liệu <https://trungtamwto.vn/thong-ke/12065-tong-hop-cac-fta-cua-viet-nam-tinh-den-thang- 112018>. 8 có bản chất chung là “hướng tới tự do hóa thương mại giữa các thành viên”.6 Ngoài ra, theo Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), “FTA thế hệ mới được hiểu là các FTA chứa đựng các quy định vượt ra khỏi khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại hiện tại”. Thành viên của FTA có thể là (i) quốc gia, như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, … hay (ii) vùng kinh tế, như Asean, Liên minh Châu Âu, … Hiệp định thương mại tự do tồn tại dưới dạng nhiều tên gọi khác nhau như: Hiệp định thương mại tự do - FTA (có thể kể đến Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc VKFTA, Hiệp định thương mại tự do Asean – Trung Quốc ACFTA, v.v…), hay Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện - CEP (ví dụ như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện giữa Asean và Nhật Bản AJCEP), Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ - CPP (có thể kể đến Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP). Tuy có nhiều cách hiểu, nhận định, định nghĩa khác nhau về FTA thế hệ mới nhưng nhìn chung có thể hiểu FTA thế hệ mới là thỏa thuận giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản thương mại giữa các thành viên tham gia, đảm bảo sự phát triển bền vững thông qua các thỏa thuận phi thương mại, đồng thời phạm vi thỏa thuận rộng hơn, nhiều lĩnh vực hơn so với các FTA thông thường.
Đặc trưng cơ bản của FTA thế hệ mới Theo Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), các FTA thế hệ mới có bốn đặc trưng sau: Mức độ tự do hóa thương mại sâu: Các thành viên cam kết cắt hoặc giảm thuế về đến mức gần hoặc bằng 0% đối với hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ, “thể hiện ở nội dung đàm phán và cam kết để xóa bỏ phần lớn các dòng thuế 6 Trung tâm WTO và Hội nhập, “Hiệp định thương mại tự do (FTA) là gì?”, (Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI WTO – FTA Hội nhập kinh tế quốc tế, 10/01/2019), truy cập ngày 02/3/2021, từ cơ sở dữ liệu <https://trungtamwto.vn/chuyen-de/12396-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-fta-la-gi>. 9 mà quan trọng hơn là xóa bỏ ngay lập tức phần lớn các rào cản thuế quan này tại thời điểm FTA có hiệu lực”.7 Phạm vi cam kết bao trùm, toàn diện:8 Phạm vi rộng, mức độ tự do hóa mạnh. Bao gồm cả nội dung phi thương mại về lĩnh vực lao động, lĩnh vực môi trường, liên quan đến sự phát triển bền vững, quản trị tốt, … Bao gồm các nội dung mới hơn như: đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách phù hợp với trình độ phát triển, … Các FTA thế hệ mới có yêu cầu cao hơn, cơ chế giám sát chặt chẽ hơn và có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng biệt: Cùng với phạm vi thỏa thuận rộng và đa dạng hơn, mức độ tự do hóa sâu hơn là những yêu cầu cao hơn, điều kiện chặt chẽ hơn để có thể được hưởng những ưu đãi trong FTA thế hệ mới. FTA thế hệ mới quy định chi tiết hơn, có cơ chế thực thi và giải quyết tranh chấp riêng biệt giúp các bên dễ dàng giám sát việc tuân thủ quy định và giải quyết vấn đề tranh chấp.9 FTA thế hệ mới có một số thành viên là nền kinh tế hàng đầu thế giới: Hiện Việt Nam có hai FTA thế hệ mới đã tham gia và có hiệu lực là CPTPP và EVFTA.
Trong đó, CPTPP có 11 thành viên (gồm những quốc gia lớn mạnh như Canada, Úc, Nhật Bản, …) có tổng GDP chiếm 13.4% GDP thế giới “và là khu vực mậu dịch tự do lớn thứ ba trên thế giới hiện tại, chỉ sau NAFTA và thị trường chung châu Âu”. Ngoài ra, Việt Nam tham gia EVFFTA cùng với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Liên minh Châu Âu.10 7 Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), “Một số vấn đề lý luận về Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Khi mục tiêu không chỉ là tự do hóa thương mại”, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 03 (124), tr. 8 Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), tlđd (7), tr. 9 Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), tlđd (7), tr.
10 Vũ Kim Ngân & Phạm Hồng Sơn (2019), tlđd (7), tr. 10 Tóm lại, FTA thế hệ mới có bốn đặc trưng cơ bản là: (i) mức độ tự do hóa thương mại sâu, đưa hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ về mức thuế suất 0%; (ii) phạm vi cam kết bao trùm, toàn diện, các thành viên tham gia cam kết nhiều lĩnh vực thương mại và cả phi thương mại; (iii) FTA thế hệ mới có yêu cầu cao hơn, cơ chế giám sát chặt chẽ hơn và có cơ chế giải quyết riêng biệt khi có vấn đề phát sinh; (iv) có một số thành viên là những nền kinh tế hàng đầu thế giới. Nguyên tắc chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp Phân biệt đối xử nói chung và phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp nói riêng là nguy cơ dẫn đến phân biệt xã hội. Thật vậy, khi định kiến về phân biệt đối xử xảy ra trong mọi mặt đời sống, NSDLĐ cũng mặc nhiên định kiến với những người xung quanh, bao gồm NLĐ và các ứng viên tìm việc.
Phân biệt đối xử làm mất cân bằng về cơ hội, chế độ phúc lợi, môi trường làm việc, hiệu năng công việc trong việc làm và nghề nghiệp, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy, chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp là yếu tố then chốt và cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Để có thể chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp, cần phải tìm hiểu chi tiết hơn về nguyên tắc này. Khái niệm phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp Những quy định về lao động trong FTA thế hệ mới đều là cam kết và khẳng định của các bên về việc tuân thủ các Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc và những hành động tiếp theo, được thông qua bởi Hội nghị Lao động Quốc tế tại kỳ họp lần thứ 86 năm 1998.
Cụ thể, tại Điều 19.3 Chương 19 về Lao động của CPTPP và tại Điều 13.4 Chương 13 về Thương mại và Phát triển bền vững của EVFTA, các bên khẳng định quyền và nghĩa vụ của mình theo như các Tuyên bố của ILO mà các bên tham gia; các nguyên tắc và quyền cơ đó bản bao gồm: “(a) tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể; (b) chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc; 11 (c) loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em; và (d) chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp.” Với tính nhân văn và mức độ phổ biến của các Tuyên bố ILO, không chỉ đa số các quốc gia trên thế giới đều tham gia mà các thành viên trong CPTPP và EVFTA cũng đều có cam kết thực hiện nguyên tắc chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp theo Tuyên bố của ILO. Những tuyên bố của ILO hoàn toàn phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền. Cụ thể, tại Điều 1 của Tuyên ngôn quy định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”.