Chương 1 - Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Nhóm trình bày lý do lựa chọn đề lài, mục tiêu của đề tài, đổi tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của bài nghiên cứu. Chuơng 2 - Cơ sỏ’ lý thuyết: Trong chương này, nhóm đưa ra và phân tích các khái niệm liên quan đên đê tài nghiên cứu, nêu ra động cơ của hành vi ỌTLN, xem xét tông quan tinh hình nghiên cửu ngoài nước và trong nước. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Nhóm giới thiệu cụ thể về bộ dừ liệu và áp dụng các cơ sờ lỷ thuyêt ờ chương 2 đe đề xuất các giả thuyêt nghiên cứu. Từ đó, nhóm xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài.
Chương 4 - Kết quả và thảo luận: Ờ chương này, nhóm trinh bày kết quá sau khi chạy hồi quy và phân tích các kết quả nhằm nêu ra mối quan hệ và ảnh hưởng của 10 các biến độc lập lên biển phụ thuộc. Từ đó nhóm xem xét và so sánh với các kết quá với các nghiên cứu trước. Chuong 5 - Kết luận và hàm ý chính sách: Tại chương cuối, tác giả tóm tắt những điêm chính trong nghiên cứu, đồng thời nêu ra một số hạn chế đề tài và gợi mờ hướng đi cho các đề tài nghiên cứu sắp tới. Bên cạnh đó, nhóm xem xét và đánh giá các kết quả của nghiên cứu, từ đỏ đê xuất một số hàm ỷ chỉnh sách quan trọng đê hồ trợ cải thiện các chỉnh sách liên quan.
11 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT 2. Co'sỏ’lý thuyết 2. Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan được định nghĩa như sau: “Theo quan điềm truyền thông, mục đích cuối cùng của quán trị tài chính là tối đa hỏa giá trị hiện tại trên mồi cô phiếu trên thị trường, hay nói cách khác là tối đa hóa giá trị cho cổ đông” (Friedman, 1970). Freeman và các học giâ khác đà nêu thêm về khái niệm “các bên liên quan” là nhằm chi các vấn đề được liên kết với nhau trong doanh nghiệp bao gồm: giá trị được tạo ra từ hoạt động thương mại, đạo đức của chủ nghĩa tư bản và tư duy nhà quán trị vào năm 1984.
Hiêu theo cách khác, các bên liên quan một cá nhân hoặc nhóm cá nhân trong môi trường kinh doanh có thê gây ảnh hưởng hoặc bị ánh hưởng bời các hành động cùa doanh nghiệp, mà giám đổc điều hành cần biết “nghệ thuật cân bằng” đế cùng tạo ra giá trị kinh doanh cụ thê trong lài chính doanh nghiệp, giừa các mổi quan hệ và lợi ích như: chủ sở hữu, người đại diện, các cô đông, giám đốc điều hành, nhân viên, khách hàng và các bên cung câp, thậm chí là chính phủ. Tất cả đều được gọi là các bên liên quan, nhừng người có khả năng đưa đề nghị về dòng tiền cúa công ty. về cơ bản, đối tượng hữu quan là khái niệm chỉ những bên mà doanh nghiệp phái có trách nhiệm. (Theo Giáo trinh Quán trị kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quổc dân) Người quán lý chịu áp lực phái cân bằng lợi ích cùa nhiều bên liên quan và cá lợi ích cùa bán thân nen hoàn loàn có thô lý giãi khá năng người quán lý SC thực hiộn QTLN đế đạt được kết quả mong muốn.
Ó bài của nhóm tác giá, trên lý thuyết các bên liên quan đê giái thích cho mối liên kết giừa đòn bẩy tài chính và hành vi QTLN. Người quàn lý sẽ phải đàm bảo các điều khoán cùa hợp đồng vay nợ, do vậy, tác giá kỳ vọng rằng doanh nghiệp có mức độ sử dụng tiền vay càng lớn, nợ phải trá càng lớn thỉ mức độ QTLN càng cao. Đồng thời học thuyết này ứng dụng vào bài cua nhóm nhằm đê giái thích tác động của nhân tổ tỷ lệ sờ hừu vốn lên hành vi ỌTLN. Nhóm nghi rằng: với sự khác nhau về cấu trúc sờ hữu vốn người quàn lý có thê vì đê cân bằng lợi ích giữa các nhóm cô đông mà thực hiện hành vi QTLN.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xửng là tinh trạng một bên có thông tin mà người các bên khác đố một sổ hậu quá cụ the SC chỉ được biết bời một bôn khi các bôn khác không có thông tin họ cần. Điều này có the gây ra một nhận thức khác nhau giừa bên cung cấp thông tin và bên nhận thông tin. 12 Đe nắm bắt thông tin bất cân xứng do chất lượng báo cáo tài chỉnh, Lee và Masulis (2009) đà sử dụng chất lượng dồn tích để nghiên cứu vai trò về thông tin bất đổi xứng trong các đợl chào bán cổ phiếu theo mùa. Họ lập luận rằng các đại diện điển hình cho thông tin bất đối xứng thường có nhiều cách hiêu.
Họ cho rằng việc báo cáo không chính xác về báo cáo tài chính làm tăng khoáng cách thông tin giừa các nhà quản lý và người ngoài, vi người quán lý cũng cỏ nguồn thông tin nội bộ, và sứ dựng các khoán dồn tích nhằm nắm bắt được tính chính xác của thông tin tài chính được báo cáo. Ramalingegowda và cộng sự (2013) cho răng thông tin bât cân xứng có thê đặt hạn chê về mặt tài chỉnh đối với các công ty, buộc họ phâi từ bỏ các khoản đầu tư có lợi nhuận đê duy tri cổ tức của họ (trong khi cả khoản đầu tư và cô tức sè khả thi nếu các ràng buộc được nới lỏng). Họ kiêm tra khái niệm này bằng cách sử dụng chất lượng báo cáo tài chính dựa trên cơ sớ dồn tích đê đo lường mức độ thông tin bất đổi xứng của một công ty. Họ nhận thây răng các công ty minh bạch, cỏ tinh hình tài chính rõ ràng, dường như đưa ra quyết định đầu tư độc lập với chính sách cô tức cùa họ; tuy nhiên, các công ty không rõ ràng dường như phải đổi mặt với những hạn chế tài chính đáng kô.
Thông tin phù hợp được cung cấp cho thị trường tài chính thông qua các báo cáo tài chính chỉnh thức (do các doanh nghiệp công bố) và báo cáo kế toán bên ngoài do các trung gian (kiêm toán viên, nhà phản lích kinh tế,. Báo cáo và báo cáo tài chính chu yẻu được lập trên cơ sờ băt buộc theo nguyên tăc GAAP và Chuân mực Kê toán Quốc tế. Thực tiền này đâ hồ trợ việc tạo ra một bộ tiêu chuẩn báo cáo tài chính chất lượng cao được chấp nhận quốc le, hạn chế quyền quyết định tùy ý của lãnh đạo trong việc lựa chọn thông tin được tiết lộ vả các thực hành tiết lộ bắt buộc có mức độ rùi ro ước tính thâp trong nen kinh tô. Tuy nhiên, trong khi các tiêu chuân kể toán cố gang giám chi phí lập báo cáo tài chính và cung câp một ngôn ngừ chung cho quàn lỷ và nhà đâu tư, thì không có quy định nào cho việc tiết lộ thông tin phi tài chính.
Healy và Palepu (2001) cho rằng khi không có một chế độ quàn lỷ kế toán rõ ràng và tô chức kiểm toán, các nhà quán lỷ có động cơ tiốt lộ hoặc che giấu thông tin với các nhà đầu tư. Các doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tự nguyện tiết lộ thông tin như vậy khi không có một chế độ quản lỷ nghiêm ngặt bao phủ các sờ thích cùa các bên liên quan. Tuy nhiên, việc tiêt lộ tự nguyện này đặt ra một số tình huống khó khăn. Việc tiết lộ thông tin như vậy đòi hỏi chi phỉ tiết lộ đặc biệt là khi có tin xấu xuất hiện.
Các doanh nghiệp có động cơ mạnh mẽ đê tiết lộ thông tin tự nguyện khi các bên tham gia thị trường tài chính coi nó là rất quan trọng trong việc xác định giá trị hợp lỷ cúa các doanh nghiệp và do đó, cái thiện lợi ích hoặc loại bỏ rủi ro cùa họ. Lý thuyết tín hiệu Trong bối cành mà thông tin bất cân xứng giừa các bên, lý thuyết tín hiệu được hình thành và phát triển để giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin. Nghía là, khi có sự bẩt cân xứng thông tin thỉ một bên nắm giừ thông tin chọn tín hiệu và truyền đạt tín hiệu cho bên cỏn lại, bên cỏn lại nhận và lý giái tín hiệu, giải mã thông tin. Lý thuyết này được bát nguồn từ lý thuyết thị trường lao động Spence (1973) và nó đà được sư dụng đê giải thích việc công bố thông tin trong báo cáo cua công ty (Ross, 1977).
Lý thuyết tín hiệu đóng vai trò quan trọng và được áp dụng trong phần lớn các nghiên cứu về quản trị chiến lược DN nói chung và trong quán trị lợi nhuận nói riêng. Dưới góc độ ỌTLN, lý thuyết tín hiệu cung cấp một cách nhìn sâu sắc vào việc các công ty truyền đạt thông tin tài chính cua mình. Theo Verrecchia (1983), các công ty thực hiện hành vi ỌTLN đê phát ra tín hiệu cho thị trường rằng họ có hiệu suất tài chính tốt hơn so với đối thủ, mục đích là đê thu hút đầu tư và nâng cao danh tiếng. Altamuro và cộng sự (2005) đà nhận định rằng ỌTLN thế hiện mong muốn của nhà quàn lý trong việc cung cấp thông tin về kỳ vọng liên quan đến hiệu quà tài chính tương lai cùa DN.
Điều này được Richard D. Morris (2012) cúng cố bang viộc chi ra rằng công ty có chất lượng cao hơn sẽ chọn các chính sách kế toán mà thông qua đó thông tin tích cực có thê được công bố, trong khi công ty chất lượng thấp hơn cỏ xu hướng ân giấu thông tin không thuận lợi. Đặc biệt, trong bối cảnh cua các công ty thực hiện IPO, Brau và Fawcett (2006) đà phát hiện ra rằng các công ty này thường phát tín hiệu mạnh mẽ về lợi nhuận cúa họ trong giai đoạn xung quanh 1PO đô nôi bật hơn. Vì nhà đầu tư thiếu các nguồn thông tin khác, họ phái dựa chù yếu vào bán cáo bạch đê đánh giá những công ty mới niêm yết.
Ọintao (2007) đà nhân mạnh răng, do sự bât cân xứng thông tin xung quanh IPO, các công ty chất lượng cao có thê cố tình phóng đại lợi nhuận đê tạo ra sự khác biệt rồ ràng so với các công ty chất lượng thấp, làm giám khả năng mô phóng cua chúng. Datar và cộng sự (1991) cùng với Copley và Douthetl (2002) cũng đã chi ra rằng chất lượng kiêm toán được dùng như một tín hiệu về giá trị của doanh nghiệp tại sự kiện IPO. Chang và cộng sự (2007) cho rằng danh tiếng cúa kiêm toán viên có thê đóng vai trỏ như một tín hiệu tích cực về giá trị cùa công ly thông qua chất lượng kiểm toán và độ tin cậy cua báo cáo tài chính. Co' sỏ’ lý luận 2.