MỞ ĐẦU Việt Nam là một nước nông nghiệp, hàng năm lượng phụ phẩm nông nghiệp tạo ra từ ngành chế biến nông sản là vô cùng lớn và đa dạng, phong phú như: rơm, rạ, cây ngô, bã mía, bã dong riềng, bã sắn. Miến dong là một loại sản phẩm trong số đó, miến dong được sản xuất từ dong riềng và được ưa chuộng bởi giá trị dinh dưỡng cũng như mùi vị của nó. Quá trình chế biến tinh bột dong từ củ dong riềng tạo ra một lượng chất thải lớn là bã dong. Lượng bã này tại một số làng nghề sản xuất được tận thu và tái sử dụng rất ít còn lại xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất cũng như bầu không khí tại làng nghề.
Tuy nhiên với thành phần chủ yếu là cellulose, bã dong có thể tận dụng làm nguồn nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế đặc biệt là tái sử dụng bã dong riềng để trồng nấm. Theo Nguyễn Như Ngọc và cs (2017) đã nghiên cứu thu bã thải dong riềng làm nguồn cơ chất để nuôi nấm sò trắng Pleurotus florida và đạt năng suất thu quả thể là 49,52% [10]. Song bên cạnh đó, nghề trồng nấm cũng tạo ra một sản lượng bã thải nấm khổng lồ. Thông thường người ta chỉ để bã thải nấm hoại mục tự nhiên kéo dài sau đó bón trực tiếp cho cây trồng nhưng hiệu quả thấp.
Ở một số cơ sở sản xuất lớn, lượng bã thải để tồn đọng quá nhiều gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, thẩm mỹ, cảnh quan nông thôn và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Bã thải trồng nấm có hàm lượng khoáng, photphát và độ xốp cao có tác dụng điều hòa rất tốt cho đất và là nguồn phân bón kích thích hạt giống nảy mầm. Nguồn nguyên liệu ban đầu để trồng nấm chủ yếu là các hợp chất khó phân hủy, bã thải trồng nấm khi thải ra môi trường vẫn còn hệ sợi ăn trắng xung quanh nên bịch nấm ban đầu vẫn còn giá trị dinh dưỡng đối với một lượng lớn các loài vi sinh vật và nấm bệnh. Do đó nếu không có biện pháp xử lý kịp thời ổ nấm bệnh sẽ dễ lây lan nhanh trong quá trình trồng nấm và làm ô nhiễm môi trường xung quanh do quá trình phân hủy chậm của các hợp chất lignin, hemicellulose và cellulose.
Việc sử dụng vi sinh vật phân giải cellulose đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu rất nhiều. Ở Ấn Độ, Behera và cs (2014) đã phân lập được vi khuẩn phân giải cellulose từ đất rừng Đước và xác định đó là các loài Micrococcus spp., và Pseudomonas spp.[26]; ở Trung Quốc, Yang Ling Liang và cs. Ở Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Trúc và cs. Hiện nay có rất nhiều biện pháp xử lý nguồn phế thải nông nghiệp hiệu quả và không gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng nguồn phế thải thành sản phẩm có giá trị kinh tế.
Trong đó biện pháp sử dụng phân bón hữu cơ từ phế thải nông nghiệp như bã thải trồng nầm, rơm rạ, chất thải gia súc, gia cầm, thân cây ngô, thân cây đậu kết hợp với bổ sung vi sinh vật dùng để bón vào đất làm tăng độ phì nhiêu, tăng năng suất cây trồng, giảm ô nhiễm môi trường. Phân hữu cơ vi sinh có ưu điểm làm tăng độ tơi xốp, giữ độ ẩm cho đất, hạn chế được rửa trôi, an toàn và vệ sinh cho cây trồng, vật nuôi và con người, hạn chế các chất độc hại tồn dư trong cây trồng. Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Phân lập, tuyển chọn, khảo sát đặc điểm chủng vi khuẩn sinh tổng hợp cellulase từ bã dong riềng sau khi trồng nấm và ứng dụng cho sản xuất phân bón”. Mục tiêu của đề tài: - Phân lập và tuyển chọn được chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt độ cao, có hoạt tính cellulase cao.
- Xác định được ảnh hưởng một số yếu tố đến sự sinh trưởng của chủng vi khuẩn phân lập được. - Thử nghiệm ứng dụng vi khuẩn trong ủ phân bón hữu cơ. Đồi tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Mẫu bã thải trồng nấm của các cơ sở trồng nấm trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Vi khuẩn có khả năng xử lý cellulose trong bã thải trồng nấm, sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ cao.
- Thử nghiệm ủ phân bón quy mô phòng thí nghiệm. Nội dung nghiên cứu: - Khảo sát một số thành phần bã thải dong riềng sau khi trồng nấm. - Phân lập, tuyển chọn chủng vi khuẩn có hoạt tính phân hủy cellulose cao, có khả năng sinh trưởng trong môi trường nhiệt độ cao. Định danh chủng vi khuẩn sinh tổng hợp cellulase.
- Khảo các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chủng. - Đánh giá các chỉ tiêu trong phân bón sau khi ủ thành phân bón hữu cơ. 2 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tình hình sản xuất và chế biến dong riềng tại Việt Nam Nhiều năm nay cây dong riềng đc coi là cây thế mạnh của ngành nông nghiệp nước ta.
Các sản phẩm từ củ dong như tinh bột dong và miến dong rất được ưa chuộng trên thị trường bởi giá trị dinh dưỡng cũng như mùi vị của nó. Dong riềng có tên khoa học là Canna edulis Ker Gawl, thuộc họ Chuối hoa - Cannaceae. Cây cao 1,2-1,5m; có thể tới 2m. Thân rễ phình to thành củ, chứa nhiều tinh bột.
Lá có phiến thuôn dài, thường có màu tía, bẹ tía, gân giữa to, gân phụ song song. Hoa xếp thành cụm ở ngọn thân; đài 3, cánh hoa 3; nhị lép màu đỏ son, rộng 1cm; nhị vàng, môi vàng. Ở nước ta, cây dong riềng được trồng ở hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc. Các tỉnh có diện tích và sản lượng dong riềng lớn phải kể đến là: Bắc Kạn, Sơn la, Cao Bằng, Hòa Bình, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái,… Năm 2010 toàn tỉnh Bắc Cạn chỉ có hơn 270ha dong riềng tập chung chủ yếu ở Na Rì và Ba Bể.
Sang năm 2012, diện tích trồng dong đã lên đến hơn 1.800ha và phủ khắp các huyện, thị xã (nay là TP. Bắc Cạn) mang lại nhiều hiệu quả cao. Như năm 2015, được mùa năng suất trung bình đạt 60-70 tấn/ha, sản lượng củ dong ước đạt 63.000 tấn củ, tương ứng 9.000 tấn tinh bột để sản xuất ra được khoảng 5. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn có 112 cơ sở, hộ gia đình hoạt động chế biến dong riềng (bao gồm cả các cơ sở, hộ gia đình đầu tư mới, nâng công suất trong năm 2013).
Trong đó, 24 cơ sở, hộ gia đình vừa chế biến tinh bột, vừa sản xuất miến; 14 cơ sở, hộ gia đình chuyên sản xuất miến; 74 cơ sở, hộ gia đình chuyên chế biến tinh bột. Đối với 98 cơ sở, hộ gia đình (vừa sản xuất bột, miến và chuyên sản xuất bột cộng lại) có tổng công suất chế biến tinh bột dong riềng trên địa bàn tỉnh khoảng 1.170 tấn củ/ngày tương đương sản lượng củ dong riềng được chế biến khoảng 117.000 tấn (tính trong thời gian 100 ngày), đáp ứng 65,5% sản lượng củ dong riềng của năm 2013. Với tỷ lệ thu hồi tinh bột là 18% thì sẽ thu được khoảng 21.000 tấn tinh bột thương phẩm, còn lại sản lượng củ dong riềng xuất bán ra ngoài tỉnh khoảng 61. 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM Tại làng nghề Minh Hồng, Minh Quang, Ba Vì, Hà Nội với lợi thế diện tích đất đồi rộng lớn, gần chân núi Ba Vì nên cây dong riềng ở Minh Hồng rất phát triển, tổng diện tích dong riềng ở đây là 250ha, sản lượng bột thu được hàng năm khoảng 20.000 tấn [44], một phần bột này sử dụng làm nguyên liệu sản xuất miến dong tại làng nghề.
Bên cạnh các làng nghề sản xuất miến dong đi từ nguyên liệu là củ dong, một số làng nghề sản xuất miến dong như Cát Quế, Minh Khai (Hoài Đức, Hà Nội), Cự Đà (Thanh Oai, Hà Nội) chủ yếu mua tinh bột dong từ các làng nghề khác và tiến hành chế biến. Huyện Bình Liêu (Quảng Ninh) có diện tích trồng cây dong riềng năm 2017 trên toàn huyện đạt 257,9ha bằng 237,5% so với cùng kỳ năm 2016; sản lượng củ dong đạt trên 8.309 tấn, tăng trên 3.363 tấn so với năm 2016. Tại các xã vùng núi cao của huyện Tiên Yên trung bình 1ha cây dong riềng cho sản lượng 60-90 tấn củ, doanh thu 155 triệu đồng, lãi 60-70 triệu đồng, gấp 3 lần so với trồng lúa. Tuy nhiên đặc thù của nghề chế biến củ dong là lượng bã thải lớn, chiếm 65- 70%.
Để sản xuất ra 1 kg miến dong, lượng bã dong thải ra tương ứng là 9-10 kg tươi, mỗi năm ở một làng nghề có thể thải ra hàng vạn tấn bã dong tươi. Nguyễn Phương Hạnh và Chu Thị Thu Hà (2012) khảo sát tại làng nghề Dương Liễu (Hà Nội) 95% bã dong sau khi thu tinh bột đã thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm rất nặng nề [34]. Thực trạng môi trƣờng tại các làng nghề sản xuất miến dong Đặc thù của làng nghề chế biến nông sản là lượng bã thải và nước thải lớn nhưng hầu hết các làng nghề chế biến tinh bột dong riềng ở khắp nước ta đều chưa được xây dựng các mô hình và hệ thống xử lý nước thải, bã thải hoặc có nhưng chưa triệt để. Hầu như toàn bộ khối lượng nước thải và bã thải đều được nông dân xả thẳng ra môi trường xung quanh, do đó môi trường ở các làng nghề này và các vùng lân cận đều bị ô nhiễm nghiêm trọng.
4 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM Hình 1. Hiện trạng môi trƣờng tại làng nghề sản xuất miến dong Hình 1.1 là hai ví dụ cụ thể về ô nhiễm nước thải và bã thải tại các làng nghề sản xuất tinh bột dong và miến dong xung quanh Hà Nội. Do không đầu tư nhiều cho vấn đề môi trường, nước thải được xả trực tiếp ra các kênh mương mà không qua xử lý nên gây ô nhiễm nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư làng nghề và các vùng lân cận. Quá trình sản xuất tinh bột dong và tinh bột sắn thải ra một lượng lớn chất thải rắn là vỏ, bã, đất cát,.
Hiện nay bã thải này được người dân tận dụng làm thức ăn chăn nuôi, phơi khô làm nhiên liệu rất ít. Còn lại đổ ra đường, đổ xuống cống rãnh gây tắc nghẽn, khi bị phân hủy gây mùi hôi thối khó chịu. Nguồn thải này gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí ở làng nghề.