Chương 1). Chương 2 sẽ trình bày các phương pháp trích xuất thông tin thư điện tử, kỹ thuật giảm thiểu thư rác phổ biến như chặn IP, lọc theo luật, lọc theo nhận dạng và các kỹ thuật lọc rác cơ bản và thông minh. Tiếp theo, luận văn so sánh, nghiên cứu về các hướng đi lọc thư rác ở Việt Nam và trên thế giới, để từ đó đưa ra đề xuất phù hợp. Cuối cùng, Chương 3 mô tả thực nghiệm bao gồm đề xuất mô tả kiến trúc thực nghiệm, kỹ thuật áp dụng trong thực nghiệm và kết luận và đánh giá kết quả thực nghiệm.
Tổng quan về thư rác 1. Định nghĩa Có rất nhiều định nghĩa khác nhau cho thư rác. Định nghĩa này có tính đến các đặc điểm của thư điện tử hàng loạt [2]. Các định nghĩa về thư rác đều có những đặc điểm chung như sau: • Gửi bằng thư điện tử • Sử dụng các địa chỉ được thu thập mà không có sự đồng ý • Gửi hàng loạt • Không mong muốn nhận • Lặp đi lặp lại • Nhầm mục đích thương mại hoặc tài chính • Không có mục tiêu và bừa bãi • Không thể ngăn cản • Ẩn danh và / hoặc ngụy trang • Nội dung bất hợp pháp hoặc xúc phạm • Nội dung lừa đảo hoặc gian lận 1.
Thống kê và tác hại của thư rác Thư rác chiếm một phần rất lớn của băng thông mạng, theo thống kê của Statista [3], từ những năm 2012 đến 2018, số lượng thư rác luôn nhiều hơn so với số lượng thư hợp lệ (ham). Mặc dù số lượng thư rác có giảm xuống so với những năm trước đây từ 69% giảm xuống 55%, tuy nhiên, có thể thấy thư rác vẫn chiếm một lượng băng thông mạng lớn. Tỉ lệ thư rác điện tử từ năm 2012 đến 2018 [3] Theo thống kê mới nhất của Statista [4], thư rác chiếm 53,95 phần trăm lưu lượng thư điện tử vào tháng 3 năm 2020. Trong khoảng thời gian gần đây 4 nhất, Nga chiếm phần lớn nhất trong số các thư rác với 20,74 % tổng lượng thư rác toàn cầu.
Bất chấp sự phổ biến của nó, tỷ lệ thư rác e-mail toàn cầu thực sự đang giảm: tỷ lệ thư rác hàng năm toàn cầu trong năm 2018 là 55%, giảm so với 69% vào năm 2012 [5]. Trong năm 2018, 281,1 tỷ thư điện tử được gửi và nhận hàng ngày [6]. Phần lớn trong số đó là các e-mail quảng cáo được gửi bởi các nhà tiếp thị mỗi ngày. Trong khi nhiều người sử dụng cho rằng nội dung đó nằm trong thư mục thư rác của họ, e-mail tiếp thị nói chung là vô hại, tuy gây khó chịu cho người dùng.
Tính đến quý 2 năm 2018, chỉ 85% thư điện tử tiếp thị đến được hộp thư đến của khách hàng và 7% đã bị bộ lọc thư rác bắt được [6]. Tuy nhiên, mọi thứ đang được cải thiện đối với các nhà tiếp thị: vào năm 2018, tỷ lệ gửi thư rác của các e-mail tiếp thị thương mại đã giảm xuống còn 9%, giảm từ 14% vào năm 2017 [6]. Tuy nhiên, không phải tất cả các thư rác đều là những e- mail quảng cáo lành tính. Một phần đáng kể các thư rác có tính chất độc hại hơn, nhằm phá hoại hoặc chiếm quyền điều khiển hệ thống của người dùng [6].
Thống kê trong quý đầu tiên của năm 2020, về các nguồn của thư rác, 9,64% khối lượng thư rác toàn cầu bắt nguồn từ các IP có trụ sở tại Hoa Kỳ tuy nhiên phần lớn thư rác bắt nguồn là Nga chiếm 20,74 phần trăm tổng thư rác toàn cầu [6]. Thư rác là thư điện tử được gửi không mong muốn, gây ra nhiều ảnh hưởng đến nhiều mặt khác nhau: • Quá tải băng thông: Thư rác chặn các kênh liên lạc và tạo ra lưu lượng băng thông lớn (chi phí băng thông này công ty/doanh nghiệp phải trả tiền). Ngoài ra, có những máy chủ thư phải xử lý thư rác và những máy chủ này phải được bảo trì bởi các chuyên gia được trả lương cao. Do đó, chi phí vận hành cơ sở hạ tầng tăng đáng kể.
• Tốn thời gian. Nếu thư rác đến hộp thư đến của người dùng, người nhận phải xóa nó theo cách thủ công. Một người đọc 10-20 thư điện tử mỗi ngày có thể nhận được khoảng 160-180 tin nhắn rác cùng với thư từ công việc của họ. Điều đó có nghĩa là họ sẽ dành 5-6 giờ mỗi tháng chỉ để xóa thư rác, gây phương hại đến thời gian làm việc hiệu quả của họ.
• Khó chịu và phiền toái. Bằng cách xóa thủ công thư rác, người dùng trở thành một kỹ thuật viên xử lý rác thải ‘điện tử’. Việc buộc phải thực hiện các biện pháp như vậy không thể không gây khó chịu cho người dùng, dẫn đến những cảm xúc tiêu cực không 5 mong muốn. Cũng có thể trong quá trình xóa, người dùng cũng có thể vô tình xóa mất một thư điện tử quan trọng cùng với vô số thư rác.
Tất cả những ai đã đối mặt với tình huống như vậy đều cảm thấy khó chịu và phiền toái. • Ảnh hưởng của thư rác đối với cá nhân: Thư rác gây tốn kém chi phí cho người dùng và cho xã hội nói chung. Cho dù tài khoản doanh nghiệp hay cá nhân, người nhận thường sẽ tốn thời gian để phân loại thư điện tử và xóa các thư không mong muốn và do đó phải chịu chi phí cơ hội về thời gian. Thư rác cũng gia tăng chi phí của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) do tiêu thụ nhiều băng thông.
Cuối cùng, thư rác được sử dụng để đạt được các mục tiêu gian lận hoặc tội phạm khác, gây ra các chi phí gián tiếp tiềm ẩn có liên quan đến nó. Theo ước tính [1] rằng các công ty và người tiêu dùng Mỹ phải chịu chi phí gần 20 tỷ đô la mỗi năm do thư rác. Con số của người tiêu dùng phải gánh chịu chi phí gần 20 tỷ đô la hàng năm do thư rác. Ước tính rằng những người gửi thư rác và người bán quảng cáo bằng thư rác thu thập tổng doanh thu trên toàn thế giới theo đơn đặt hàng là 200 triệu đô la mỗi năm.
Do đó, "tỷ lệ" của chi phí bên ngoài cho lợi ích bên trong cho thư rác là khoảng 100:1 [1]. • Ảnh hưởng của thư rác đối với doanh nghiệp Trong môi trường kinh doanh, thư rác gây ra tốn kém cho chi phí bảo mật dịch vụ, phần cứng và phần mềm; chi phí huấn luyện; mất năng suất do mất thời gian xóa các thư điện tử không mong muốn (hoặc tìm kiếm những cái đã xóa) và chi phí mua dung lượng lưu trữ bổ sung. Theo ước tính [7] của về chi phí spam từ các nhà xuất bản và tạp chí lên tới 1,1 tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Tính tất cả các loại spam, chi phí tăng lên khoảng 2,6 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng bị từ các tác động gián tiếp của thư rác, chẳng hạn như phải trả giá cao hơn cho các dịch vụ ISP. Ở cấp độ nhà cung cấp dịch vụ (ISP), chi phí xử lý thư rác là một phần của ngân sách bảo mật. Cách đây vài năm, ISP coi vẫn coi thư rác là một vấn đề của người dùng cá nhân [6]. Tuy nhiên, với một lượng lớn thư rác gia tăng, các ISP phải đối mặt với các khoản đầu tư có thể tốn kém vào cơ sở hạ tầng thư và đầu tư mua thêm thiết bị lưu trữ, khiến cho các nhà ISP ngày càng quan tâm vấn đề này và giúp làm sáng tỏ những chi phí tiềm ẩn này.
Phương pháp phân loại thư rác Các phương pháp khác nhau đang được sử dụng để đo lường và phân tích thư rác. Ba phương pháp tiếp cận chính đang được sử dụng cho việc này: khảo sát (dựa trên lấy mẫu); phương pháp tiếp cận dựa trên báo cáo; và phương pháp tiếp cận dựa trên công cụ kỹ thuật. Phương pháp khảo sát Phương pháp khảo sát gắn chặt với kích thước mẫu cũng như thái độ của những người tham gia khảo sát. Trong phương pháp, điều quan trọng là những người được chọn trong khảo sát có thể trở thành đại diện mẫu được không.
So với các công cụ kỹ thuật, cách tiếp cận này ít tốn kém hơn và có thể được thiết lập và thực hiện trong thời gian tương đối ngắn. Một ví dụ về nghiên cứu dựa trên khảo sát là khảo sát của AOL và DoubleClick, hai nhà cung cấp giải pháp tiếp thị qua thư điện tử. Bảng câu hỏi được gửi cho hơn 2000 người, nhằm khảo sát điều gì khiến người sử dụng phàn nàn, quy trình báo cáo spam cho AOL hoặc quy trình hủy đăng ký qua thư điện tử (unsubscribe) [2]. Phương pháp dựa trên báo cáo Phương pháp dựa trên báo cáo phụ thuộc vào báo cáo của chính những người nhận thư rác, sau đó được phân tích.
Mục đích chính của phương pháp này là phân tích nội dung của thư rác một cách chi tiết và xác định các loại thư rác, người gửi thư rác và các đặc điểm của việc gửi thư rác. Phương pháp này dựa trên cơ sở phân tích thư rác được báo cáo, thay vì cố gắng tính toán khối lượng thư rác hoặc xác định phần trăm e-mail là thư rác. Với cách tiếp cận này, dữ liệu được thu thập trên cơ sở tự nguyện từ người dùng và do đó, định nghĩa về thư rác (theo báo cáo) là chủ quan, dựa trên nhận thức của cá nhân người nhận. Phương pháp này được sử dụng bởi SpamCop và Abuse.net nhằm thu thập và phân tích các báo cáo tự nguyện của người dùng [2].
Trên Google thư điện tử hay các phần mềm thư điện tử đều có mục ‘Report spam’ để gửi báo cáo cho các nhà cung cấp về một thư điện tử theo cảm nhận cá nhân là thư rác. Điều này sẽ giúp các nhà cung cấp dịch vụ có những mẫu thu thập về thư rác đa dạng và tổng quan hơn. Phương pháp kỹ thuật Phương pháp dựa trên công cụ kỹ thuật không cần sự tham gia tích cực của người dùng. Về cơ bản, phương pháp này sẽ chính xác và khách quan hơn do nó không đòi hỏi chủ quan diễn giải của người dùng so với hai cách tiếp 7 cận còn lại.
Trên mặt khác, tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế ở chỗ không thể đánh giá phản ứng chủ quan đối với thư rác, chẳng hạn như báo cáo thư rác, hay xóa bỏ thư rác. Cách tiếp cận kỹ thuật phụ thuộc vào độ chính của các thuật toán và kỹ thuật được sử dụng, đòi hỏi cập nhật liên tục để nhận ra các dạng thư rác mới.