Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tại Việt Nam, các vùng đồng bằng ven biển trải dài từ đồng bằng sông Hồng (Bắc Bộ) đến đồng bằng sông Cửu Long (Nam Bộ) tập trung tầng trầm tích đất sét yếu Holocene và Pleistocene với bề dày phổ biến từ 8 m đến 40 m. Loại đất này có các đặc tính cơ lý bất lợi: độ ẩm tự nhiên xấp xỉ giới hạn chảy ($w_n \approx w_L$), hệ số rỗng ban đầu $e_0$ lớn và sức kháng cắt không thoát nước thấp. Khi xây dựng các công trình hạ tầng, cảng biển và nhà máy, nền đất bắt buộc phải được xử lý gia cố. Phương pháp phổ biến hiện nay là sử dụng lõi thấm đứng (bấc thấm - Prefabricated Vertical Drain - PVD hoặc giếng cát - Sand Drain) kết hợp gia tải trước bằng tải trọng đắp (Surcharge) có hoặc không kết hợp bơm hút chân không (Vacuum).
Tuy nhiên, thực tế thiết kế và thi công xử lý nền đất yếu tại Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập:
- Nhiều công trình sau khi xử lý vẫn xuất hiện độ lún dư kéo dài trong giai đoạn vận hành, làm tăng chi phí bảo trì và ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình.
- Các tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam (như TCVN 9842:2013, TCVN 9355:2012, 22 TCN 262-2000) chủ yếu tính toán độ lún theo thời gian dựa trên việc quy đổi nền nhiều lớp về một lớp tương đương có hệ số cố kết trung bình, làm giảm độ chính xác của dự báo lún.
- Các tiêu chuẩn hiện hành chưa cung cấp phương pháp xác định độ lún cuối cùng ngoài phương pháp giải tích đơn giản hoặc phương pháp ngoại suy hồi quy đồ thị quan trắc của Asaoka (1978).
- Về thí nghiệm trong phòng, tiêu chuẩn TCVN 4200:2012 chỉ quy định phương pháp cố kết nén một chiều gia tải từng cấp truyền thống (Incremental Loading - IL). Thí nghiệm IL đòi hỏi thời gian thử nghiệm kéo dài (mỗi cấp tải giữ 24 giờ, tổng thời gian một mẫu đất sét yếu có thể vượt quá 7 ngày) và chỉ cung cấp các điểm rời rạc trên đường cong nén lún $e - \log \sigma'_v$, gây khó khăn trong việc xác định chính xác áp lực tiền cố kết ($\sigma'_c$).
- Thí nghiệm cố kết theo tốc độ biến dạng không đổi (Constant Rate of Strain - CRS) tuy đã được tiêu chuẩn hóa quốc tế (ASTM D4186-2012, JIS A1227-2009) với ưu điểm rút ngắn thời gian thí nghiệm (1–2 ngày/mẫu) và ghi nhận dữ liệu liên tục, nhưng tại Việt Nam chưa có tiêu chuẩn ban hành và chưa có nghiên cứu toàn diện để áp dụng trực tiếp các thông số từ thí nghiệm CRS vào bài toán xử lý nền bằng bấc thấm. Sự chênh lệch áp lực tiền cố kết xác định từ CRS so với IL từng khiến nhiều nghiên cứu e ngại về tính ứng dụng của phương pháp này.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Ứng dụng kết quả thí nghiệm cố kết tốc độ biến dạng không đổi CRS trên mẫu đất nguyên dạng để xác định các thông số đầu vào ($C_{c1}, C_{c2}, C_r, \sigma'c, c{v(NC)}, c_{h(NC)}, c_{v(OC)}, c_{h(OC)}, e_0$) phục vụ phân tích bài toán cố kết sử dụng bấc thấm (PVD) trong điều kiện đất sét yếu ở Việt Nam.
- Thiết lập hệ thống tương quan thực nghiệm giữa các chỉ tiêu cơ lý và thông số cố kết cho đất sét yếu ở các vùng nghiên cứu tại Việt Nam.
- Cải tiến mô hình toán học và xây dựng chương trình tính toán theo phương pháp sai phân hữu hạn (Finite Difference Method - FDM) cho nền nhiều lớp để phân tích bài toán cố kết có sử dụng bấc thấm PVD.
- Phân tích bài toán cố kết khi chiều dài bấc thấm thay đổi (chiều sâu cắm bấc nhỏ hơn chiều dày vùng đất yếu nén lún) bằng công cụ sai phân hữu hạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Đất sét yếu thuộc trầm tích Holocene tại một số công trình cảng biển và nhà máy công nghiệp thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
- Các phương pháp thí nghiệm trong phòng (CRS, IL, cắt đơn trực tiếp DST1, DST2, nén đơn nở hông tự do UCT) và thí nghiệm hiện trường (xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng CPTu, cắt cánh hiện trường FVT/VST).
- Các công trình xử lý nền đất yếu thực tế sử dụng bấc thấm kết hợp gia tải trước bằng đất đắp hoặc bơm hút chân không có lắp đặt hệ thống quan trắc địa kỹ thuật hoàn chỉnh.
- Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng phương pháp thí nghiệm CRS hiện hữu theo tiêu chuẩn ASTM D4186-2012 và JIS A1227-2009 vào điều kiện địa kỹ thuật Việt Nam; không nghiên cứu chế tạo hay thay đổi kết cấu thiết bị thí nghiệm.
- Không xét đến biến dạng từ biến (cố kết thứ cấp) trong khuôn khổ mô hình toán học của luận án.
- Không sử dụng các phần mềm thương mại để tính toán đối chứng mà tập trung kiểm chứng phần mềm tự lập trình (CONSOPRO) với dữ liệu quan trắc hiện trường thực tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Lý thuyết và phương pháp thí nghiệm cố kết tốc độ biến dạng không đổi (CRS) được khởi xướng và phát triển từ các công trình của Crawford (1964), Byrne (1969), Smith (1969) và hoàn thiện cơ sở lý thuyết bởi Wissa (1971). Sau đó, Umehara (1975, 1979) nghiên cứu xác định thông số cố kết cho đất sét yếu có xét đến trọng lượng bản thân của mẫu đất. Leroueil (1983, 1985, 1996) nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ biến dạng lên áp lực tiền cố kết $\sigma'_c$ và xác lập mối quan hệ ứng suất - biến dạng - tốc độ biến dạng trong điều kiện nén một chiều.
Về tốc độ biến dạng trong thí nghiệm CRS:
- Gorman (1976, 1981) đề xuất duy trì tốc độ biến dạng sao cho tỷ số áp lực nước lỗ rỗng đáy mẫu trên ứng suất tổng ($u_b / \sigma_v$) dao động trong khoảng từ 3% đến 30% ở giai đoạn ứng suất vượt quá áp lực tiền cố kết.
- Jia và cộng sự (2010) thực hiện 114 mẫu CRS trên sét Ariake (Nhật Bản) và chỉ ra rằng ở tốc độ $0{,}02%$/phút, các giá trị $\sigma'_c$ và hệ số cố kết $c_v$ từ CRS có tính tương thích cao với thí nghiệm IL.
- Chung và cộng sự (2012) nghiên cứu tính dị hướng thấm của sét Ariake dưới tốc độ $0{,}02%$/phút.
- Robinson (2012) và Kassim và cộng sự (2016) đề xuất lựa chọn tốc độ biến dạng chuẩn hóa theo hàm lượng hạt sét (từ $0{,}0125$ đến $0{,}1000$ mm/phút).
- Lang và cộng sự (2018) kiến nghị tốc độ biến dạng gấp 1 đến 10 lần tốc độ kết thúc cố kết sơ cấp để giữ $u_b / \sigma_v < 15%$.
Về ứng dụng thực tiễn của CRS: Umehara (1983) áp dụng CRS tính lún cho đê chắn sóng trên nền đất sét pha bụi tại Nhật Bản. Suzuki (2004, 2008) ứng dụng thành công số liệu CRS phân tích độ lún nền có bấc thấm tại sân bay Kansai (Osaka), dự án lấn biển Isogo (Yokohama, Nhật Bản) và đê biển cửa sông Banjarmasin (Kalimantan, Indonesia).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về trầm tích Holocene của Ngô Quang Toàn (2000), Nguyễn Văn Thơ và Trần Thị Thanh (2002) đã xác định đặc trưng địa tầng và chiều dày đất yếu. Về thí nghiệm CRS, Suzuki và Nguyễn Công Oanh (2011, 2013) công bố một số kết quả ban đầu trên đất sét yếu; Đào Thị Vân Trâm và cộng sự (2013), Nguyễn Công Oanh (2016) sử dụng số liệu CRS để phân tích hố đào sâu tại Thị Vải.
Về lý thuyết cố kết qua lõi thấm đứng: Phát triển từ lời giải thoát nước một chiều và hướng tâm của Rendulic (1936), Carillo (1942), Biot (1941), Barron (1948) với việc xét đến ảnh hưởng xáo động (smear zone) và sức cản lõi thấm (well resistance). Yoshikuni và Nakanode (1974) phát triển lời giải gần đúng theo giả thiết biến dạng tự do. Hansbo (1979, 1981, 1997, 2011) hoàn thiện các phương pháp giải tích thực hành có xét đến vùng xáo động và sức cản dòng thấm trong bấc thấm.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn
Mặc dù thí nghiệm CRS đã được nghiên cứu ở nhiều nước, đa phần các công bố chỉ dừng lại ở phạm vi phòng thí nghiệm mà thiếu sự đối chứng với chuỗi số liệu quan trắc hiện trường dài hạn trên các công trình thực tế. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng toàn diện thông số CRS vào phân tích bài toán cố kết bằng bấc thấm. Các lời giải giải tích truyền thống (như Hansbo) chủ yếu áp dụng cho nền một lớp đồng nhất với tải trọng tăng tuyến tính đơn giản, không phản ánh đúng thực tế nền đất nhiều lớp với các thông số nén ($C_{c1}, C_{c2}, C_r$) và hệ số cố kết biến thiên theo từng giai đoạn cố kết trước (OC) và cố kết thường (NC) dưới tiến độ gia tải nhiều cấp phức tạp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình tính toán
- Lý thuyết cố kết nén một chiều tốc độ biến dạng không đổi (CRS): Dựa trên tiêu chuẩn ASTM D4186-2012 và JIS A1227-2009. Mẫu đất được nén với tốc độ biến dạng trục không đổi $r = \Delta \varepsilon / \Delta t = 0{,}02%$/phút. Hệ thống tự động đo lực nén, biến dạng và áp lực nước lỗ rỗng sinh ra ở đáy mẫu ($u_b$). Độ chênh áp lực nước lỗ rỗng và tỷ số $u_b / \sigma_v$ được kiểm soát chặt chẽ dưới 30% để đảm bảo tính hợp lệ của phép đo.
- Lý thuyết cố kết thấm hướng tâm qua bấc thấm: Kế thừa các phương trình vi phân cố kết của Barron (1948) và Hansbo (1981), mô hình toán học tích hợp ảnh hưởng của đường kính vùng xáo động ($d_s$), hệ số thấm vùng xáo động ($k'_h$), khoảng cách bấc thấm ($D$), đường kính tương đương của trụ đất ($D_e$) và đường kính tương đương của lõi thấm ($d_w$).
- Mô hình đất nhiều lớp biến thiên thông số: Tác giả phát triển mô hình tính toán cho nền đất nhiều lớp phân dị theo chiều sâu. Trong mỗi phân lớp, đường cong nén lún $e - \log \sigma'_v$ được chia thành 3 đoạn đặc trưng với các độ dốc:
- Chỉ số nở/nén lại $C_r$ khi ứng suất hữu hiệu $\sigma'_v \le \sigma'_c$ (trạng thái cố kết trước - OC).
- Chỉ số nén $C_{c1}$ trong giai đoạn chuyển tiếp khi $\sigma'_c < \sigma'_v \le (3 \div 5)\sigma'_c$.
- Chỉ số nén $C_{c2}$ khi ứng suất nén lớn $\sigma'_v > (3 \div 5)\sigma'_c$ (độ dốc tiệm cận hằng số).
- Hệ số cố kết phân biệt rõ rệt giữa hai trạng thái: $c_{v(OC)}, c_{h(OC)}$ và $c_{v(NC)}, c_{h(NC)}$.
Hệ số rỗng (e)
σ'c
Phương pháp nghiên cứu thực tế và dữ liệu
- Thực nghiệm trong phòng:
- Lấy mẫu nguyên dạng bằng ống lấy mẫu Piston thành mỏng chuyên dụng để hạn chế xáo động.
- Thí nghiệm CRS tại tốc độ biến dạng $0{,}02%$/phút với áp lực ngược bão hòa 100 kPa.
- Thí nghiệm cố kết gia tải từng cấp IL theo TCVN 4200:2012 với tỷ số gia tải $\Delta \sigma' / \sigma' = 1$, chu kỳ 24 giờ/cấp tải.
- Thí nghiệm cắt đơn trực tiếp DST1 (cố kết không thoát nước ở cấp ứng suất hiện trường) và DST2 (ở trạng thái cố kết thường).
- Thí nghiệm nén đơn nở hông tự do UCT với tốc độ biến dạng 1%/phút.
- Xác định các chỉ tiêu giới hạn Atterberg ($w_L, w_P, PI$) và thành phần hạt sét/bụi.
- Thực nghiệm hiện trường:
- Thí nghiệm xuyên tĩnh đo áp lực nước lỗ rỗng (CPTu) với diện tích mũi côn $A = 10\text{ cm}^2$, góc mở $60^\circ$, tốc độ xuyên $1 \div 2\text{ cm/s}$ để đo sức kháng mũi $q_T$, áp lực nước lỗ rỗng tại vai côn $u_2$ và tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng xác định hệ số cố kết ngang $c_h$.
- Thí nghiệm cắt cánh hiện trường (FVT/VST) với tốc độ xoay $6^\circ$/phút xác định sức kháng cắt không thoát nước $s_{uf(v)}$.
- Phương pháp số và công cụ phân tích: Luận án lập trình phần mềm CONSOPRO bằng phương pháp sai phân hữu hạn (FDM) với các chương trình con chuyên biệt:
STRAIN01, STRAIN01A, STRAIN01B, STRAIN02, UNGSUATTRUNGBINH và HESORONG.
- Dữ liệu quan trắc thực tế: Thu thập số liệu quan trắc liên tục theo thời gian tại các công trình gồm: bàn đo lún mặt (Settlement Plate - SP), hệ thống đo lún sâu từ tính (Extensometer - EXT), đầu đo áp lực nước lỗ rỗng dây rung (Piezometer - PIEZ), bàn đo áp lực đất dây rung (Earth Pressure Cell - EPC).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về sử dụng kết quả thí nghiệm cố kết trong phân tích bài toán địa kỹ thuật
Chương 1 hệ thống hóa đặc điểm phân bố trầm tích đất sét yếu Holocene tại Đông Nam Á và Việt Nam. Theo Cox (1970), Ngô Quang Toàn (2000), Nguyễn Văn Thơ và Trần Thị Thanh (2002), trầm tích Holocene tập trung tại đồng bằng Bắc Bộ (Vùng I) và đồng bằng sông Cửu Long (Vùng IV) với tuổi dao động từ 2.000–4.500 năm đối với Holocene giữa–muộn ($Q_{IV}^{2,3}$) và 4.500–10.000 năm đối với Holocene sớm–giữa ($Q_{IV}^{1,2}$).
Chương tổng hợp quy trình thí nghiệm CRS (Hình 1-4, Bảng 1-1) và thống kê các công trình thu thập dữ liệu (Bảng 1-2). Kết quả phân tích thành phần hạt (Hình 1-6) cho thấy tổng hàm lượng hạt sét và bụi của các công trình đều dao động từ 90% đến 100%. Hàm lượng hạt sét tại Cái Mép đạt từ 60% đến trên 80%, trong khi tại các khu vực khác dao động từ 35% đến 50%, thấp nhất là Hải Phòng. Biểu đồ Atterberg (Hình 1-7) cho thấy quan hệ giữa chỉ số dẻo $PI$ và giới hạn chảy $LL$ của đất sét yếu tại các khu vực Cái Mép, Hiệp Phước, Hải Phòng, Cà Mau, Long An, Thị Vải, Bình Chánh đều bám sát đường A-line:
$$PI = 0{,}73(LL - 20)$$
Tác giả tổng hợp và thiết lập các công thức tương quan thực nghiệm xác định chỉ số nén $C_c$ theo độ ẩm tự nhiên $w_n$, giới hạn chảy $w_L$ và chỉ số dẻo $PI$ (Bảng 1-4):
| Dạng tương quan |
STT |
Phương trình |
Nguồn công bố |
| $C_c = f(w_n)$ |
1 |
$C_c = 0{,}01(w_n - 5)$ |
Azzouz và cộng sự (1976) |
|
2 |
$C_c = 0{,}01 w_n$ |
Koppula (1981) |
|
3 |
$C_{c2} = 0{,}017(w_n - 13)$ |
Nguyễn Công Oanh và cộng sự (2017) |
| $C_c = f(w_L)$ |
4 |
$C_c = 0{,}006(w_L - 9)$ |
Azzouz và cộng sự (1976) |
|
5 |
$C_{c2} = 0{,}017(w_L - 19)$ |
Nguyễn Công Oanh và cộng sự (2017) |
| $C_c = f(PI)$ |
6 |
$C_c = 0{,}016 PI$ |
Iizuka và Ohta (1987) |
|
7 |
$C_{c2} = 0{,}022(PI + 5)$ |
Nguyễn Công Oanh và cộng sự (2017) |
Chương 2: Một số thông số của đất yếu xác định bằng các phương pháp thí nghiệm khác nhau
Chương 2 trình bày chi tiết kết quả phân tích các thông số cơ lý và cố kết từ các thí nghiệm hiện trường và trong phòng:
| Loại thí nghiệm |
Ký hiệu |
Thông số xác định |
Quy cách và điều kiện thí nghiệm |
| Cắt đơn trực tiếp 1 |
DST1 |
$s_{uf(d)}$ |
Mẫu $60\text{ mm} \times H25\text{ mm}$, thể tích không đổi (không thoát nước), nén lại đến ứng suất hiện trường $\sigma'_{v0}$. |
| Cắt đơn trực tiếp 2 |
DST2 |
$s_{un}$ |
Mẫu $60\text{ mm} \times H25\text{ mm}$, cắt không thoát nước ở trạng thái cố kết thường. |
| Nén đơn nở hông tự do |
UCT |
$q_u / 2$ |
Mẫu $35\text{ mm} \times H80\text{ mm}$ hoặc $50\text{ mm} \times H100\text{ mm}$, tốc độ biến dạng 1%/phút. |
| Xuyên tĩnh đo áp lực nước |
CPTu |
$q_T - \sigma_{v0}$ |
Tốc độ xuyên $1 \div 2\text{ cm/s}$, $A = 10\text{ cm}^2$, góc mũi $60^\circ$, đo $u_2$. |
| Cắt cánh hiện trường |
FVT (VST) |
$s_{uf(v)}$ |
Tốc độ xoay $6^\circ$/phút, loại cánh điện hoặc tự khoan lỗ. |
| Cố kết tốc độ biến dạng không đổi |
CRS |
$\sigma'_c, C_c, C_r, c_v$ |
Mẫu $60\text{ mm} \times H25\text{ mm}$, tốc độ $0{,}02%$/phút, áp lực ngược 100 kPa, đo $u_b$. |
| Cố kết gia tải từng cấp |
IL |
$\sigma'_c, C_c, C_r, c_v$ |
Mẫu $60\text{ mm} \times H25\text{ mm}$, mỗi cấp tải giữ 24 giờ, $\Delta \sigma' / \sigma' = 1$. |
Các phát hiện và quy luật quan trọng:
- Sức kháng cắt không thoát nước ($s_u$): Sức kháng cắt từ thí nghiệm UCT ($q_u / 2$) luôn cho giá trị nhỏ nhất do mẫu không có áp lực buồng $\sigma'3$. Sức kháng cắt từ FVT ($s{uf(v)}$) và DST1 ($s_{uf(d)}$) tương đương nhau và luôn lớn hơn giá trị tính theo tỷ số cố kết thường $s_{un} / \sigma'{v0}$, chứng minh đất sét yếu tự nhiên tại Việt Nam tồn tại trạng thái cố kết trước. Hệ số mũi xuyên $N{kt} = (q_T - \sigma_{v0}) / s_{uf(v)}$ dao động trong khoảng từ 10 đến 20. Khi tỷ số cố kết trước $\text{OCR} = 1{,}0$, tỷ số sức kháng cắt chuẩn hóa đạt $s_{un} / \sigma'_{v0} = 0{,}22$.
- Áp lực tiền cố kết ($\sigma'_c$) và hiệu ứng POP: Chênh lệch giữa áp lực tiền cố kết và ứng suất hữu hiệu bản thân ($\text{POP} = \sigma'c - \sigma'{v0}$) dao động từ 20 kPa (Cà Mau) đến 60 kPa (Thị Vải), khẳng định toàn bộ đất sét yếu Holocene tại các khu vực nghiên cứu đều ở trạng thái cố kết trước nhẹ ($\text{OCR} > 1{,}0$). Biến dạng mẫu đất lấy bằng ống Piston khi nén đến ứng suất hiện trường $\sigma'_{v0}$ phần lớn nhỏ hơn 6% (một số ít từ 6% đến 8%), đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng mẫu nguyên dạng.
- So sánh CRS và IL: Áp lực tiền cố kết xác định từ thí nghiệm CRS lớn hơn từ thí nghiệm IL từ 5% đến 25% (trung bình cao hơn 16%) với phương trình tương quan:
$$\sigma'{c(CRS)} = 1{,}16,\sigma'{c(IL)} \quad (R^2 = 0{,}85)$$
- Kiểm soát tỷ số áp lực nước lỗ rỗng: Ở tốc độ biến dạng $0{,}02%$/phút, tỷ số $u_b / \sigma_v$ trong suốt quá trình thí nghiệm CRS luôn nhỏ hơn 30%, thỏa mãn yêu cầu của tiêu chuẩn ASTM D4186-2012. Khi tăng tốc độ biến dạng, $\sigma'_c$ có xu hướng tăng; khi giảm tốc độ, $\sigma'c$ giảm nhẹ do ảnh hưởng của từ biến nhưng hệ số cố kết $c_v$ ở giai đoạn NC vẫn tiệm cận về giá trị không đổi $c{v(NC)}$.
Chương 3: Lời giải cho bài toán cố kết bằng lõi thấm đứng
Chương 3 tổng quan các lời giải cố kết từ Rendulic (1936), Carillo (1942), Biot (1941), Barron (1948), Yoshikuni và Nakanode (1974) đến Hansbo (1979, 1981, 1997, 2011).
Tác giả đề xuất mô hình toán học cải tiến cho bài toán cố kết nền nhiều lớp có xét đến các yếu tố phi tuyến và tính dị hướng:
- Mô hình hóa sự biến thiên của chỉ số nén lún theo 3 đoạn ($C_r, C_{c1}, C_{c2}$) và hệ số cố kết ($c_{v(OC)}, c_{h(OC)}$ sang $c_{v(NC)}, c_{h(NC)}$).
- Xét ảnh hưởng của vùng xáo động xung quanh bấc thấm ($d_s, k'_h$) và sức cản dòng thấm của bản thân lõi bấc ($d_w$).
- Lập trình phần mềm CONSOPRO bằng phương pháp sai phân hữu hạn (FDM) với cấu trúc phân tán các khối tính toán:
STRAIN01: Tính toán biến dạng và lún trong giai đoạn tiền cố kết ($\sigma'_v \le \sigma'_c$).
STRAIN01A và STRAIN01B: Xử lý biến dạng giai đoạn chuyển tiếp ($\sigma'_c < \sigma'_v \le (3 \div 5)\sigma'_c$).
STRAIN02: Tính toán biến dạng giai đoạn nén dẻo hoàn toàn ($\sigma'_v > (3 \div 5)\sigma'_c$).
UNGSUATTRUNGBINH và HESORONG: Cập nhật liên tục trường ứng suất hữu hiệu trung bình và sự suy giảm hệ số rỗng $e$ trong từng bước thời gian $\Delta t$.
So sánh kết quả phân tích giữa phần mềm CONSOPRO và lời giải giải tích của Hansbo (1981) cho thấy sự tương đồng cao trong điều kiện bài toán nền đồng nhất một lớp. Khi áp dụng cho nền nhiều lớp thực tế, việc sử dụng bộ thông số từ thí nghiệm CRS giúp tính toán độ lún chính xác hơn so với việc dùng thông số từ thí nghiệm IL (thí nghiệm IL thường dự báo độ lún lớn hơn do đánh giá thấp $\sigma'_c$).
Chương 4: Phân tích các bài toán xử lý nền đất yếu có sử dụng kết quả thí nghiệm CRS ở Việt Nam
Chương 4 kiểm chứng mô hình và phần mềm CONSOPRO thông qua việc mô phỏng 4 dự án thực tế quy mô lớn kết hợp phân tích bài toán bấc thấm có chiều dài thay đổi:
| Tên dự án |
Vị trí |
Biện pháp xử lý nền |
Bề dày đất yếu (m) |
Thiết bị quan trắc đối chứng |
| Cảng Hải Phòng GĐ 2 |
Chùa Vẽ, Hải Phòng |
PVD + Gia tải đắp |
$12 \div 15$ |
Bàn đo lún mặt (SP) |
| Cảng Quốc tế Cái Mép - ODA |
Bà Rịa - Vũng Tàu |
PVD + Gia tải đắp |
$30 \div 38$ |
Bàn đo lún SP, đo lún sâu EXT, áp lực nước PIEZ, áp lực đất EPC |
| Cảng SPCT - Hiệp Phước |
Nhà Bè, TP. HCM |
PVD + Gia tải đắp (6 phân khu: Phase 1-1 đến 2-2) |
$25 \div 35$ |
Bàn đo lún SP, lún sâu EXT, áp lực nước PIEZ, cắt cánh kiểm tra $s_u$ |
| Nhà máy Khí Cà Mau |
Khánh An, Cà Mau |
PVD + Hút chân không kết hợp gia tải đắp |
$18 \div 24$ |
Bàn đo lún SP, lún sâu EXT, áp lực nước PIEZ, đồng hồ chân không |
Kết quả phân tích và kiểm chứng:
- Dự báo độ lún mặt và lún sâu theo thời gian: Đường cong lún tính toán từ CONSOPRO sử dụng thông số CRS bám rất sát số liệu quan trắc thực tế tại các bàn đo lún mặt (SP) và các vòng từ đo lún sâu (EXT) theo từng lớp địa tầng suốt quá trình đắp gia tải và lưu tải.
- Tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng: Kết quả tính toán áp lực nước lỗ rỗng thặng dư phản ánh chính xác quy luật tiêu tán đo được từ các đầu đo Piezometer kiểu dây rung ở các độ sâu khác nhau.
- Dự báo gia tăng sức kháng cắt: Sức kháng cắt không thoát nước sau khi kết thúc xử lý nền tính toán từ CONSOPRO phù hợp với kết quả thí nghiệm cắt cánh FVT kiểm tra lại tại hiện trường.
- Bài toán bấc thấm cắm lơ lửng: Khi chiều dài bấc thấm ngắn hơn chiều dày tầng đất yếu nén lún ($L_{PVD} < H_{soft}$), quá trình cố kết diễn ra phân hóa thành hai vùng: vùng có bấc thấm cố kết nhanh theo phương ngang, vùng không có bấc thấm bên dưới chỉ cố kết theo phương đứng truyền thống với tốc độ chậm hơn nhiều. Phần mềm CONSOPRO mô phỏng chính xác ứng xử nén lún và chênh lệch áp lực nước lỗ rỗng giữa hai vùng này.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Thiết lập hệ phương trình và lời giải sai phân hữu hạn cho nền nhiều lớp: Xây dựng mô hình toán học hoàn chỉnh cho bài toán cố kết thấm qua bấc thấm áp dụng cho nền đất nhiều lớp phân dị, phản ánh chính xác sự phi tuyến của đường cong nén lún qua 3 chỉ số nén ($C_r, C_{c1}, C_{c2}$) và sự thay đổi hệ số cố kết ($c_v, c_h$) giữa hai trạng thái OC và NC.
- Xác lập chuỗi tương quan địa kỹ thuật thực nghiệm cho đất sét yếu Việt Nam:
- Tương quan giữa áp lực tiền cố kết từ CRS và IL: $\sigma'{c(CRS)} = 1{,}16,\sigma'{c(IL)}$.
- Tương quan giữa chỉ số nén $C_{c2}$ với độ ẩm tự nhiên ($w_n$), giới hạn chảy ($w_L$) và chỉ số dẻo ($PI$).
- Tương quan giữa tỷ số sức kháng cắt chuẩn hóa $s_{un} / \sigma'_{v0} = 0{,}22$ khi $\text{OCR} = 1{,}0$ và quy luật tăng trưởng $s_u$ theo $\text{OCR}$.
- Tương quan giữa hệ số cố kết ngang từ thí nghiệm tiêu tán CPTu ($c_{h(CPTu)}$) với hệ số cố kết đứng từ thí nghiệm CRS ($c_{v(CRS)}$).
- Tương quan giữa sức kháng mũi xuyên hiệu dụng $q_{NET} = q_T - \sigma_{v0}$ với áp lực tiền cố kết $\sigma'_c$.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khẳng định tính ứng dụng của thí nghiệm CRS tại Việt Nam: Chứng minh thực nghiệm tốc độ biến dạng $0{,}02%$/phút đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn ASTM D4186-2012 ($u_b / \sigma_v < 30%$), cho phép rút ngắn thời gian thí nghiệm nén cố kết từ trên 7 ngày xuống còn 1–2 ngày mà vẫn đảm bảo độ tin cậy của bộ thông số thiết kế.
- Phát triển phần mềm CONSOPRO: Xây dựng thành công công cụ tính toán địa kỹ thuật chuyên dụng đã đăng ký bản quyền, giúp các kỹ sư thiết kế dự báo chính xác độ lún theo thời gian, độ lún sâu từng phân lớp, mức độ tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng và độ gia tăng sức kháng cắt cho các dự án xử lý nền đất yếu có sử dụng bấc thấm kết hợp gia tải trước hoặc bơm hút chân không.
- Khắc phục sai số của tiêu chuẩn hiện hành: Giải quyết triệt để nhược điểm quy đổi nền về một lớp tương đương trong các tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam, giúp kiểm soát chính xác độ lún dư sau thi công.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn bổ sung phương pháp thí nghiệm cố kết tốc độ biến dạng không đổi CRS vào hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) phục vụ khảo sát thiết kế công trình trên nền đất yếu.
- Bổ sung phương pháp tính toán cố kết nền nhiều lớp bằng phương pháp số (FDM) vào các tiêu chuẩn thiết kế xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm thay cho phương pháp quy đổi tương đương một lớp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Luận án chưa xét đến biến dạng từ biến (cố kết thứ cấp theo hệ số $C_\alpha$) trong mô hình toán học và phần mềm CONSOPRO.
- Nghiên cứu chưa đi sâu vào việc thiết kế, chế tạo mới hoặc cải tiến phần cứng thiết bị thí nghiệm CRS mà hoàn toàn dựa trên các thiết bị thí nghiệm sẵn có theo tiêu chuẩn ASTM và JIS.
- Luận án chưa tiến hành so sánh đối chứng kết quả tính toán của CONSOPRO với các phần mềm phần tử hữu hạn thương mại phổ biến (như PLAXIS, GeoStudio).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng thuật toán của phần mềm CONSOPRO để tích hợp mô hình tính toán cố kết thứ cấp (từ biến) theo thời gian dài hạn.
- Nghiên cứu ứng xử của đất sét yếu dưới các điều kiện thoát nước phức tạp hơn và mở rộng cơ sở dữ liệu thí nghiệm CRS cho các vùng đất yếu đầm lầy nội địa, than bùn tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Địa kỹ thuật - Công trình: Cung cấp cơ sở lý thuyết toàn diện về cơ học đất cố kết, phương pháp thí nghiệm CRS và thuật toán sai phân hữu hạn giải bài toán cố kết hướng tâm.
- Kỹ sư thiết kế và tư vấn địa kỹ thuật: Cung cấp các công thức tương quan thực nghiệm đã được kiểm chứng trên các dự án lớn tại Việt Nam; cung cấp phương pháp luận sử dụng thông số CRS trong tính toán lún và độ ổn định khi xử lý nền bằng bấc thấm hoặc hút chân không.
- Các cơ quan quản lý và viện nghiên cứu chuyên ngành: Làm cơ sở khoa học và thực tiễn để biên soạn, cập nhật và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về thí nghiệm CRS và tính toán xử lý nền đất yếu.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao áp lực tiền cố kết $\sigma'_c$ xác định từ thí nghiệm CRS lại lớn hơn từ thí nghiệm IL truyền thống?
Trong thí nghiệm CRS, đất được nén liên tục với tốc độ biến dạng cố định ($0{,}02%$/phút), thời gian thí nghiệm diễn ra nhanh (1–2 ngày) nên biến dạng từ biến (creep) tích lũy trong quá trình thí nghiệm rất nhỏ. Ngược lại, thí nghiệm IL giữ tải 24 giờ cho mỗi cấp nên biến dạng bao gồm cả biến dạng từ biến, làm cho đường cong $e - \log \sigma'v$ dịch chuyển xuống dưới và cho giá trị $\sigma'c$ nhỏ hơn. Kết quả nghiên cứu của luận án chỉ ra rằng $\sigma'{c(CRS)}$ lớn hơn $\sigma'{c(IL)}$ từ 5% đến 25% (trung bình 16%, $\sigma'{c(CRS)} = 1{,}16,\sigma'{c(IL)}$).
2. Tốc độ biến dạng $0{,}02%$/phút trong thí nghiệm CRS được lựa chọn dựa trên cơ sở nào?
Tốc độ $0{,}02%$/phút được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn ASTM D4186-2012 nhằm đảm bảo tỷ số áp lực nước lỗ rỗng sinh ra ở đáy mẫu trên ứng suất nén tổng ($u_b / \sigma_v$) luôn duy trì dưới 30% trong suốt giai đoạn thí nghiệm ổn định. Tốc độ này phù hợp với các nghiên cứu của Jia và cộng sự (2010), Chung và cộng sự (2012) trên đất sét mềm và đã được luận án kiểm chứng thực tế qua số liệu quan trắc lún tại 4 dự án lớn ở Việt Nam.
3. Đất sét yếu Holocene tại Việt Nam ở trạng thái cố kết bình thường (NC) hay cố kết trước (OC)?
Kết quả nghiên cứu tại các dự án (Cái Mép, Hiệp Phước, Hải Phòng, Cà Mau, Thị Vải, Long An, Bình Chánh) khẳng định đất sét yếu Holocene tự nhiên tại Việt Nam đều ở trạng thái cố kết trước nhẹ ($\text{OCR} > 1{,}0$). Độ chênh lệch áp lực tiền cố kết $\text{POP} = \sigma'c - \sigma'{v0}$ dao động từ 20 kPa đến 60 kPa, được hình thành do quá trình từ biến lâu dài hoặc lực dính cấu trúc theo tuổi trầm tích (2.000 đến 10.000 năm).
4. Phần mềm CONSOPRO giải quyết được nhược điểm gì của các phương pháp tính toán theo tiêu chuẩn hiện hành?
Các tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam (TCVN 9842:2013, TCVN 9355:2012) quy đổi nền đất nhiều lớp thành một lớp đồng nhất có hệ số cố kết trung bình, dẫn đến sai số lớn trong việc dự báo độ lún theo thời gian và lún dư. Phần mềm CONSOPRO sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn (FDM) cho phép mô phỏng nền nhiều lớp riêng biệt, cập nhật liên tục sự thay đổi phi tuyến của các chỉ số nén ($C_r, C_{c1}, C_{c2}$) và hệ số cố kết ($c_v, c_h$) theo mức độ tăng ứng suất từ trạng thái OC sang NC dưới tiến độ đắp tải thực tế.
Kết luận
Luận án của NCS. Nguyễn Công Oanh đã giải quyết trọn vẹn bài toán ứng dụng kết quả thí nghiệm cố kết tốc độ biến dạng không đổi (CRS) vào phân tích xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm trong điều kiện Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực nghiệm trong phòng, thí nghiệm hiện trường, mô phỏng số sai phân hữu hạn qua phần mềm CONSOPRO và đối chứng chuỗi số liệu quan trắc thực tế tại các công trình lớn (Cái Mép, SPCT Hiệp Phước, Hải Phòng, Cà Mau), luận án đã chứng minh tính chính xác, hiệu quả và khả năng rút ngắn thời gian thí nghiệm của phương pháp CRS. Công trình đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận địa kỹ thuật và thực tiễn thiết kế, thi công nền móng công trình trên đất yếu tại Việt Nam.