CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO GIÁ CỔ PHIẾU 1. Các vấn đề chung về cổ phiếu và dự báo giá cổ phiếu 1. Các vấn đề chung về cổ phiếu 1. Khái niệm Cổ phiếu là một khái niệm đã có từ rất lâu trên thị trường tài chính thế giới.
Cổ phiếu là một chứng khoán, do công ty cổ phần phát hành nhằm mục đích xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với phần vốn mà họ đã góp vào công ty cổ phần. Khi một công ty cổ phần có nhu cầu huy động vốn để thành lập hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh, số vốn cần huy động sẽ được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, giá trị của mỗi cổ phần là khác nhau. Nhà đầu tư khi mua cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty.
Lúc này, công ty sẽ phát hành giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phần, được gọi là cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần tài sản và vốn góp của tổ chức phát hành (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2020). Theo Điều 4, Luật chứng khoán 2019 quy định: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.” Cổ phiếu được chia thành nhiều loại tương ứng với quyền sở hữu của cổ đông trong công ty. Thông thường, cổ phiếu được phân chia ra cổ phiếu phổ thông (common stock) và cổ phiếu ưu đãi (Preffered stock).
Trong đó cổ phiếu phổ thông (common stock) là loại cổ phiếu phổ biến nhất. Cổ phiếu phổ thông là chứng khoán đại diện cho quyền sở hữu vốn cổ phần trong một công ty. Cổ phiếu phổ thông cho phép nhà đầu tư bỏ phiếu biểu quyết về một số vấn đề của công ty đó. Thêm vào đó, cổ phiếu phổ thông còn cho phép người sở hữu nhận được một phần lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua cổ tức hoặc chênh lệch giá vốn thông qua giao dịch trên TTCK (Nasdaq, 2022).
“Cổ phiếu ưu đãi là chứng khoán thể hiện quyền sở hữu trong một công ty cổ phần có kèm theo điều khoản ưu đãi về thu nhập đối với tài sản trong trường hợp giải thể, phá sản”. Hầu hết cổ phiếu ưu đãi được trả cổ tức cố định và thực hiện trước so với cổ phiếu 4 phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi thường không mang quyền biểu quyết và có cả đặc điểm của chứng khoán vốn và chứng khoán nợ (Nasdaq, 2022). Theo quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phiếu ưu đãi được chia ra làm 04 loại bao gồm: Cổ phiếu ưu đãi cổ tức; Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại; Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết và các Cổ phiếu ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về Chứng khoán.
Mỗi loại cổ phiếu ưu đãi sẽ nhận mức ưu đãi tương ứng theo quy định của loại cổ phiếu đó. Ngoài cổ phiếu ưu đãi cổ tức cố định, các loại cổ phiếu ưu đãi còn lại sẽ nhận cổ tức như đối với cổ phiếu phổ thông. Đặc điểm Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn. Người sở hữu cổ phiếu sẽ có quyền và lợi ích hợp pháp với phần vốn đã góp vào công ty cổ phần.
Tuy nhiên, cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông sẽ là người nhận thanh toán cuối cùng trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu không có thời hạn cụ thể. Không giống như trái phiếu hay một số loại chứng khoán khác, cổ phiếu không có kỳ hạn cụ thể. Cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty cổ phần phát hành ra nó.
Trong một số quy định về thời gian hoạt động của công ty cổ phần, cổ phiếu sẽ vẫn tồn tại khi công ty đó xin gia hạn hoặc kéo dài thời gian hoạt động. Cổ phiếu mang lại cho người sở hữu một số quyền/ lợi ích nhất định. Tùy thuộc vào từng loại cổ phiếu mà quyền và lợi ích là khác nhau. Thuộc tính của cổ phiếu Giống như các chứng khoán, cổ phiếu có ba thuộc tính bao gồm: thuộc tính sinh lời, thuộc tính rủi ro và thuộc tính thanh khoản.
Theo đó, thuộc tính sinh lời của cổ phiếu thể hiện khả năng sinh lời của cổ phiếu trong tương lai. Nhà ĐT mua và nắm giữ cổ phiếu với kỳ vọng có được lợi nhuận trong thời gian sở hữu. Mức sinh lời của cổ phiếu xác định thông qua cổ tức và chênh lệch giá giao dịch trong thời gian đầu tư. Thuộc tính rủi ro của cổ phiếu thể hiện sự sai lệch giữa sinh lời kỳ vọng và sinh lời thực tế của cổ phiếu trong thời gian đầu tư.
Mức rủi ro mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông sẽ được đo lường thông qua phương sai và độ lệch chuẩn của mức sinh lời kỳ vọng trong 5 giai đoạn đầu tư. Tùy thuộc vào cách thức phân loại, rủi ro của cổ phiếu được chia thành hai nhóm: (1) rủi ro hệ thống và rủi ro cá biệt); (2) rủi ro từ yếu tố vĩ mô và rủi ro từ yếu tố vi mô. Thuộc tính thanh khoản thể hiện thông qua quyền chuyển nhượng của cổ phiếu. Cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông được quyền tự do chuyển nhượng (theo quy định giao dịch chứng khoán tại mỗi quốc gia).
Để đo lường thuộc tính thanh khoản của mỗi cổ phiếu, các nhà đầu tư có thể dựa vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông đại chúng hoặc khối lượng giao dịch hàng ngày (KLGD bình quân) của CP. Phân loại cổ phiếu phổ thông Tùy vào quy định tại mỗi quốc gia, cổ phiếu phổ thông còn được phân chia thành cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu đang lưu hành và cổ phiếu quỹ. CP được phép phát hành: “Cổ phiếu được phép phát hành là loại cổ phiếu tối đa mà công ty có thể phát hành kể từ lúc thành lập cũng như trong quá trình hoạt động.” Số lượng cổ phiếu được phép phát hành để huy động vốn sẽ phải được quy định trong Điều lệ của công ty và đáp ứng quy định của Luật chứng khoán tại mỗi quốc gia. Khi có sự đồng thuận của đa số CĐ trong công ty và sửa đổi trong Điều lệ, số lượng CP được phép phát hành sẽ được phép thay đổi.
Cổ phiếu đã phát hành: “Cổ phiếu đã phát hành là cổ phiếu của công ty đã phát hành ra cho nhà đầu tư. Số lượng cổ phiếu đã phát hành sẽ nhỏ hơn hoặc bằng số lượng cổ phiếu được phép phát hành.” Cổ phiếu quỹ: “Cổ phiếu quỹ là một phần của cổ phiếu đã phát hành, tuy nhiên, cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ”. Nói cách khác, công ty sau khi phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư họ có quyền đăng ký mua lại chính cổ phiếu của mình trên thị trường thứ cấp. Lượng CP mua lại này cần được đăng ký với cơ quan quản lý và cam kết nắm giữ trong một khoảng thời gian.
Công ty có thể bán ra lượng cổ phiếu quỹ khi đạt kỳ vọng. Theo quy định lại một số quốc gia (trong đó có Việt Nam), hoạt động mua lại cổ phiếu quỹ sẽ làm giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp. Cổ phiếu đang lưu hành: Cổ phiếu đang lưu hành là loại cổ phiếu đã phát hành và hiện được nắm giữ với các cổ đông của công ty. CP đang lưu hành được phân biệt với CP 6 đã phát hành thông qua đối tượng nắm giữ.
Cổ phiếu đang lưu hành sẽ chính là cổ phiếu đã phát hành sau khi loại bỏ số lượng cổ phiếu quỹ. Các hình thức biểu hiện giá trị của cổ phiếu Mệnh giá cổ phiếu Mệnh giá CP còn được gọi là giá trị danh nghĩ (face value), đây là giá trị mà công ty ấn định cho mỗi CP. Tùy thuộc vào số lượng cổ phần mà CP đó đại diện quyền sở hữu, mệnh giá CP sẽ có giá trị tương ứng. Tại các quốc gia khác nhau, mệnh giá cổ phiếu được đăng ký giao dịch trên thị trường thứ cấp sẽ được thống nhất.
Tương ứng với giá trị mệnh giá, cổ phiếu sẽ đại diện cho lượng cổ phần đó. (Ví dụ ở Việt Nam là 10.000 đồng, một cổ phiếu đại diện cho quyền sở hữu của một cổ phần). Thông thường, mệnh giá được công bố trong Điều lệ của doanh nghiệp nhằm xác định mức vốn góp hình thành lên vốn điều lệ của công ty. Ngoài ra, mệnh giá còn được dùng để tính giá trị cổ tức bằng tiền mặt chi trả cho cổ đông.
Trong một số trường hợp công ty tiến hành chia tách/ gộp CP, mệnh giá có thể thay đổi theo tỷ lệ tách hoặc gộp đó (nếu có quy định). Giá trị sổ sách Giá trị số sách của cổ phiếu (Book value per share) là giá trị cổ phiếu được xác định sựa trên số liệu kế toán của doanh nghiệp. Giá trị sổ sách cho thấy sự thay đổi của công ty so với số vốn góp ban đầu (thông qua cổ phiếu phổ thông). Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu được tính bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu dành cho cổ đông phổ thông hoặc tổng giá trị tài sản ròng chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành.
Giá trị này đại diện cho giá trị tối thiểu của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và đo lường giá trị sổ sách của doanh nghiệp trên mỗi cổ phiếu. Trong trường hợp nếu công ty phát hành hai loại cổ phiếu là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi, để tính giá trị sổ sách sẽ loại bỏ đi phần giá trị thuộc CP ưu đãi trước khi chia cho số CP đang lưu hành. “Giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tuy thuộc vào loại cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành trong giai đoạn trước đó.” Giá trị nội tại Giá trị nội tại của cổ phiếu thường được xác định thông qua hoạt động phân tích cơ bản, nhà phân tích sẽ dựa vào các thông tin cơ bản về doanh nghiệp và thực hiện định giá 7 theo các phương pháp khác nhau. Giá trị nội tại được nhà đầu tư nhìn nhận như giá trị thật của doanh nghiệp.
Họ thường so sánh giá trị nội tại với giá trị thị trường của cổ phiếu để đánh giá mức độ đắt hay rẻ của cổ phiếu trước khi quyết định giao dịch. Giá trị thị trường “Giá trị thị trường được xác định thông qua các giao dịch cổ phiếu trên thị trường thứ cấp”. Nói cách khác, giá trị thị trường được xác định thông qua mối quan hệ cung cầu của CP đó.