Chương I, chương này giới thiệu hai giải pháp kiểm thử tự động hướng dữ liệu và hướng từ khóa. Chương III: Thử nghiệm kiểm thử hướng dữ liệu và từ khóa Chương này giới thiệu sơ lược với bạn đọc về phần mềm quản lý quảng cáo trực tuyến Ads Editors. Lý do cần thiết phải xây dựng hệ thống kiểm thử tự động để kiểm thử cho hệ thống Ads Editors. Đưa ra các bước xây dựng kiểm thử hướng dữ liệu và hướng từ khóa trong việc áp dụng kiểm thử tự động chức năng “Post changes/ Get changes”.
Chương IV: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng kết lại các kết quả và đóng góp mà việc thực hiện đề tài đem lại. Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất các phương hướng nghiên cứu tiếp theo, nhằm giúp cho đề tài trở nên hoàn thiện hơn. TỔNG QUAN KIỂM THỬ TỰ ĐỘNG PHẦN MỀM 1.1 Giới thiệu Khái niệm Kiểm thử phần mềm là qui trình thực hiện một chương trình hay hệ thống với mục đích tìm lỗi, như Myer định nghĩa [1]. Có kiểm thử, chúng ta có thể đánh giá được các yêu cầu về chức năng cũng như yêu cầu phi chức năng (tính tin cậy, tính khả dụng, tính hiệu quả, khả năng bảo trì, bảo mật, tính di động) của phần mềm.
Lỗi phần mềm càng được tìm ra muộn, nhất là sau khi sản phẩm đã đến tay người dùng thì càng tốn nhiều thời gian và tiền bạc để sửa lỗi. Do đó, kiểm thử phần mềm được thực hiện ngay trong quá trình phát triển phần mềm. Hiện nay, các công cụ hỗ trợ lập trình đã giúp tăng cải thiện năng suất làm việc của các lập trình viên lên rất nhiều. Điều này dẫn đến tăng áp lực lên các kiểm thử viên, những người thường đứng ở vị trí nút cổ chai trong việc bàn giao sản phẩm phần mềm.
Đòi hỏi kiểm thử viên phải kiểm thử nhiều hơn trong khoảng thời gian ít hơn. Nên việc cần làm với các kiểm thử viên đó là tìm ra cách để vừa đảm bảo chất lượng của phần mềm, đồng thời phải rút ngắn thời gian kiểm thử, đồng nghĩa với việc tăng năng suất kiểm thử. Cũng giống như rất nhiều nghành nghề khác, khi nghĩ đến việc tăng năng suất lao động, người ta nghĩ đến tự động hóa. Vậy kiểm thử tự động là gì? Kiểm thử tự động là quá trình thực hiện một cách tự động các bước trong một kịch bản kiểm thử.
Mục đích của kiểm thử tự động là giảm thiểu thời gian, công sức và kinh phí, tăng độ tin cậy, tăng tính hiệu quả và giảm sự nhàm chán cho kiểm thử viên trong quá trình kiểm thử phần mềm. [2] Kiểm thử phần mềm hay kiểm thử kiểm thử phần mềm tự động có thể được phân chia thành kiểm thử tĩnh và kiểm thử động, trong đó kiểm thử động bao gồm kiểm thử chức năng và kiểm thử phi chức năng. Mỗi loại kiểm thử đều đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo chất lượng phần mềm, như kiểm thử tĩnh là thực hiện kiểm thử ở giai đoạn sớm của quá trình phát triển phần mềm, phát hiện các lỗi trên 4 các tài liệu thiết kế, mã nguồn. Kiểm thử động được thực hiện khi mã nguồn được thực thi, nhằm phát hiện ra các lỗi về chức năng như phần mềm có hoạt động như thiết kế không, hoặc các lỗi phi chức năng như phần mềm có hoạt động như mong muốn của người dùng không.
Do có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến kiểm thử và kiểm thử tự động không thể giới thiệu hết trong phạm vi của luận văn. Nên luận văn chỉ đề cập đến các khái niệm kiểm thử chức năng và kiểm thử hồi qui, tập trung vào áp dụng kiểm thử tự động các chức năng ở trong giai đoạn kiểm thử hồi qui. Kiểm thử chức năng Giống như tên gọi của nó, kiểm thử chức năng đảm bảo rằng các chức năng của phần mềm sẽ hoạt động đúng như yêu cầu trong đặc tả phần mềm, Chức năng của phần mềm là những gì mà nó được xây dựng để có thể làm được. Vậy kiểm thử chức năng sẽ là kiểm tra xem phần mềm có thể làm được các yêu cầu có trong đặc tả hay ca sử dụng (use cases).
Có thể có một số chức năng mà cũng được giả sử sẽ thỏa mãn mặc dù không được nhắc đến trong tài liệu nhưng được ngầm hiểu bởi kiểm thử viên. Kiểm thử chức năng có thể được thực hiện ở tất cả các mức kiểm thử: kiểm thử đơn vị, kiểm thử tích hợp, kiểm thử hệ thống, kiểm thử chấp nhận… Dựa theo tiêu chuẩn ISO 9126, kiểm thử chức năng có thể tập trung vào tính phù hợp (suitability), tính tương tác (interoperability), tính bảo mật (security), tính chính xác (accuracy) và tính tuân thủ (compliance). Trong đó tính phù hợp đó là khả năng phần mềm có thể cung cấp các tập hợp các chức năng phù hợp cho một tác vụ cụ thể và mục tiêu người dùng. Tính tương tác đó là khả năng phần mềm có thể tương tác với một hoặc nhiều thành phần cụ thể hoặc hệ thống.
Tính bảo mật là khả năng phần mềm có thể ngăn chặn truy cập trái phép, dù vô tình hay cố ý các chương trình và dữ liệu. Tính chính xác là khả năng của phần mềm có thể cung cấp các quyền hay những đồng thuận về kết quả hoặc ảnh hưởng với mức độ cần thiết của độ chính xác. Kiểm thử chức năng có thể thực hiện theo hai xu hướng: Dựa trên yêu cầu hoặc dựa trên qui trình nghiệp vụ. 5 Kiểm thử chức năng dựa trên yêu cầu sử dụng đặc tả của hệ thống là tài liệu cơ bản để thiết kế các bài kiểm thử.
Một cách bắt đầu tốt đó là sử dụng bảng mục lục của tài liệu đặc tả để liệt kê ra danh sách các đầu mục cần thực hiện kiểm thử (hoặc không kiểm thử). Chúng ta cần đánh độ ưu tiên cho các bài kiểm thử để đảm bảo rằng những phần yêu cầu quan trọng nhất chắc chắn được thực hiện kiểm thử. Kiểm thử dựa trên qui trình nghiệp vụ sử dụng kiến thức liên quan đến qui trình nghiệp vụ. Qui trình nghiệp vụ miêu tả kịch bản sử dụng chức năng hàng ngày của hệ thống.
Sử dụng tài liệu ca sử dụng rất phù hợp cho việc tạo các bài kiểm thử theo hướng nghiệp vụ. [3] Một cách tổng quát, kiểm thử chức năng có thể được hoàn thành trong hai bước như minh họa ở Hình 1. Đầu tiên hệ thống cần kiểm thử được nhập giá trị đầu vào. Sau đó kết quả đầu ra của phần mềm và sự thay đổi trong trạng thái của phần mềm được so sánh với kết quả mong muốn mà đã được định nghĩa từ trước.
Trong hầu hết trường hợp, các bước này đều có thể được tự động hóa.[4] Hình 1: Kiểm thử chức năng ở góc nhìn tổng quan (High level view) Kiểm thử hồi qui Như đã nói ở trên, khi xây dựng một phiên bản mới của hệ thống như sửa lỗi, thêm chức năng, chúng ta có thể vô tình gây ra các lỗi mới. Nhiều khi có thay đổi rất nhỏ nhưng cũng gây ra vấn đề rất lớn ngoài sức tưởng tượng của đội phát triển. 6 Để tránh những sự việc đáng tiếc này xảy ra, chúng ta cần kiểm thử lại phần mềm để đảm bảo chức năng đã chạy tốt vẫn tiếp tục chạy tốt. Khi phiên bản mới của phần mềm không còn hoạt động như trước chúng ta nói là phiên bản mới hồi qui với bản trước đó.
Phiên bản mới không hồi qui tức là nó vẫn giữ được các tính năng là một yêu cầu chất lượng cơ bản. Các hoạt động kiểm thử tập trung vào vấn đề hồi qui được gọi là kiểm thử hồi qui. Đúng ra chúng ta cần kiểm tra phiên bản mới không hồi qui về phiên bản cũ, nhưng thuật ngữ kiểm thử hồi quy đã phổ biến nên chúng ta dùng thuật ngữ này. Kiểm thử hồi qui được minh họa như hình dưới đây.
Hình 2: Kiểm thử hồi qui Phương pháp đơn giản để kiểm thử hồi quy là chạy lại tất cả các ca kiểm thử của phiên bản trước. Tuy nhiên việc kiểm lại toàn bộ này rất tốn kém và không tầm thường. Các bài kiểm thử trước đó có thể không chạy lại được với phiên bản mới của phần mềm mà không sửa đổi gì. Chạy lại toàn bộ các bài kiểm thử là rất tốn kém và nhiều phần trong đó là không cần thiết.
Một bộ kiểm thửu chất lượng tốt phải được duy trì xuyên suốt các phiên bản của hệ thống. Thay đổi trong phiên bản phần mềm mới có thể tác động tới khuôn dạng của đầu vào và đầu ra, và các bài kiểm thử có thể cần các thay đổi tương ứng để chạy được. Ngay cả việc sửa đổi một cách đơn giản của cấu trúc dữ liệu, chẳng hạn như bổ xung các trường có thể làm cho các bài kiểm thử trước đây không chạy được 7 nữa. Hơn nữa một số bài kiểm thử có bị lỗi thời, khi các tính năng của phần mềm đã thay đổi hoặc bị loại bỏ khỏi phiên bản mới.
Các khung hỗ trợ để dịch đặc tả kiểm thử thành bài kiểm thử sẽ giúp giảm ảnh hưởng của thay đổi định dạng của đầu vào và đầu ra. Các đặc tả bài kiểm thử và các mệnh đề về kết quả mong đợi mà phản ánh tính đúng của bài kiểm thử và tránh các chi tiết cụ thể sẽ giảm một phần lớn công sức kiểm thử khi có thay đổi nhỏ. Các bộ kiểm thử chất lượng cao có thể được duy trì qua các phiên bản của phần mềm bằng việc xác định và loại bỏ các bài kiểm thử lỗi thời và phát hiện và đánh dấu thích hợp các bài kiểm thử dư thừa. Ca kiểm thử đi cùng một đường đi trong chương trình là dư thừa với tiêu chuẩn kiểm thử cấu trúc, nhưng bài kiểm thử cùng một phân hoạch lại là dư thừa với kiểm thử dựa trên lớp tương đương.
Việc dư thừa là do nhiều người cùng làm hoặc do chương trình bị thay đổi gây ra. Các bài kiểm thử dư thừa không ảnh hưởng đến tính đúng, sai, mà chỉ ảnh hưởng đến chi phí kiểm thử. Các bài kiểm thử lỗi thời cần phải loại bỏ, vì chúng ta không còn cần chúng còn những ca kiểm thử dư thừa chúng ta có thể giữ, vì chúng giúp phần mềm phát triển trong tương lai đảm bảo chất lượng hơn, tuy nhiên nếu chúng gây ra chi phí kiểm thử lớn quá mức cần thiết thì có thể loại bỏ. Một cách tiếp cận khác đó là thực hiện loại bỏ cả những bài kiểm thử mà không gặp lỗi trong một thời gian dài, mặc dù cần phải xem xét cẩn trọng hướng tiếp cận này.