MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Mục tiêu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Tóm lƣợc lịch sử khám phá kháng sinh. Đặc điểm sinh học của Enterococci và Streptococci. Cơ chế kháng thuốc của các chủng Enterococci và Streptococci.
Cơ chế tác động của kháng sinh đến Enterococci và Streptococci. Ức chế sinh tổng hợp thành tế bào. Ức chế sinh tổng hợp protein. Ức chế sao chép DNA.
Ức chế chuyển hóa axít folic. Kỹ thuật tách dòng phân tử trong nghiên cứu tìm kiếm kháng sinh và thách thức. Tổng quan tình hình trong nƣớc và trên thế giới. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Các chủng vi khuẩn kiểm định. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Phƣơng pháp thu thập mẫu đất. Phƣơng pháp phân lập các chủng vi khuẩn đất. Phƣơng pháp tuyển chọn các chủng vi khuẩn đất sinh hoạt chất kháng khuẩn.
Phƣơng pháp tách chiết DNA tổng số và nhân trình tự gen 16S rRNA của chủng phân lập. Phƣơng pháp phân loại và xây dựng sơ đồ phả hệ. Phƣơng pháp xác định đặc điểm nuôi cấy của chủng BPTC-45. Phƣơng pháp tách chiết hoạt chất kháng khuẩn tổng số.
Phƣơng pháp đánh giá hoạt chất kháng khuẩn (MIC90). Nhận diện hoạt chất KKTS bằng sắc ký bản mỏng và hệ thống sắc khối phổ. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN. Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn đất sinh trƣởng chậm có khả năng sinh hoạt chất kháng khuẩn.
Định danh phân tử chủng BPTC-45. Đặc điểm nuôi cấy của chủng BPTC-45. Khả năng sinh trƣởng và mầu sắc của khuẩn ty khí sinh, khuẩn ty cơ chất, sắc tố tan. Môi trƣờng thích hợp cho sinh hoạt chất kháng khuẩn.
Tách chiết và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn tổng số của của chủng BPTC-45. Phân tích hoạt chất kháng khuẩn tổng số bằng sắc ký bản mỏng hệ thống sắc khí khối phổ (GC-MS). Phân tích hoạt chất kháng khuẩn tổng số bằng sắc ký bản mỏng. Phân tích hoạt chất kháng khuẩn tổng số bằng GCMS.
38 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 42 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ. 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 54 vi DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT CCARM: Culture Collection of Antimicrobial Resistant Microbes CFU: Colony Forming Units ISEM: Intensive soil extract medium ISP: International Streptomyces Project KKTS: Kháng khuẩn tổng số MDR: Multidrug Resistant MIC: Minimum inhibitory concentration MRSA: Methicillin-resistant Staphylococcus aureus TLC: Thin-layer chromatography VRE: Vancomycin-resistant Enterococcus vii DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.
Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng phân lập bằng phƣơng pháp cấy chấm điểm. Kết quả so sánh mức độ tƣơng đồng về trình tự gen 16S rRNA của chủng BPTC-45 với các loài đã công bố trên EzTxon. Đặc điểm nuôi cấy của chủng BPTC-45 trên các loại môi trƣờng khác nhau ở 21 ngày nuôi cấy ở 28oC. Giá trị MIC90 của hoạt chất kháng khuẩn tổng số tách chiết từ dịch lên men của chủng BPTC-45.
Các hoạt chất có trong dịch chiết KKTS của chủng BPTC-45. 39 viii DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1. Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng phân lập bằng phƣơng pháp cấy chấm điểm. Điện di DNA tổng số (a), sản phẩm PCR (b) trên gel agarose 1,3% của chủng BPTC-45.
Sơ đồ phả hệ dựa vào trình tự gen 16S rRNA của chủng BPTC-45 với các loài gần nhất của chi Streptomyces; Kitasatospora setae KM- 6054T (AB022868) là loài ngoài chi Streptomyces. Đặc điểm nuôi cấy của chủng BPTC-45 trên các loại môi trƣờng ở 28oC, 21 ngày. Thanh bar: 0,5 cm. Khả năng sinh hoạt chất kháng khuẩn của chủng BPTC-45 trong các môi trƣờng.
Dịch lên men (15 µl/khoanh giấy cho mỗi loại môi trƣờng). Hoạt tính kháng khuẩn tổng số của chủng BPTC-45 (a), ức chế vi khuẩn E. Phân tách các phân đoạn có trong hoạt chất KKTS bằng TLC. Nhận diện các hoạt chất tách chiết từ dịch lên men của chủng BPTC- 45 bằng GS-MS.
Lý do chọn đề tài Enterococci và Streptococci thuộc nhóm vi khuẩn Gram dƣơng, có mặt ở trong ruột, da của vật chủ, là tác nhân gây bệnh nhiễm khuẩn đƣờng mật, viêm phúc mạc thứ phát, viêm bể thận cấp, ., đặc biệt khả năng lây lan nhanh ở các bệnh viện. Hiện nay, các loài Enterococcus và Streptococci đa kháng thuốc xuất hiện ở hầu hết các quốc gia/vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Hậu quả để lại của tính kháng thuốc thƣờng rất nghiêm trọng và là tác nhân gây ra các bệnh thứ phát. Theo ƣớc tính có khoảng 8,6 triệu ngƣời bị chết bởi các vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc hàng năm trên toàn thế giới; và dự đoán đến năm 2050 sẽ khoảng 10 triệu ngƣời chết/năm nguyên nhân đến từ vấn đề vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc (de Kraker và cs, 2016).
Nƣớc ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thuận lợi các các loài vi sinh vật sinh trƣởng, trong đó có các các loài vi khuẩn gây bệnh. Theo kết quả về tình hình kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện lớn ở nƣớc ta cho thấy các loài của Enterococci có khả năng kháng Ampicilin, Vancomycin, Erythromycin và Ciprofloxacin lần lƣợt là 28,6; 5,3; 70; và 30%; trong khi có tới 71,4% số loài Streptococci kháng penicillin và kháng erythromycin (chiếm 92. Chính vì vậy, nƣớc ta nằm trong các nƣớc có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất thế giới, các “siêu vi khuẩn” Enterococci và Streptococci kháng thuốc xuất hiện ở hầu hết ở các bệnh viện trong cả nƣớc. Hầu hết kháng sinh tự nhiên gốc từ vi khuẩn đất, mở ra thời kỳ “vàng” cho khám phá kháng sinh vào những năm 1950-1960.
Tuy nhiên sau thời nay này số lƣợng các kháng sinh tự nhiên đƣợc phát hiện có xu hƣớng giảm mạnh, trong khi nguồn bệnh đa kháng thuốc lại cho chiều hƣớng ngƣợc lại. Giải pháp tìm kiếm các nguồn gen vi khuẩn đất tiềm năng mới đƣợc gợi ý cho việc thúc đẩy phát hiện các kháng sinh tự nhiên (Pham và Kim, 2012; Hug và công sự, 2016; Ling và cộng sự, 2015; Lewis, 2017). 2 Trong đất chứa đựng khoảng 107~1010 tế bào vi khuẩn/gram. Tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 1% cộng đồng vi khuẩn đất đƣợc nuôi cấy thành công, cũng nhƣ xác định đƣợc các đặc tính sinh học trong trong phòng thí nghiệm (Hug và công sự, 2016; Ling và cộng sự, 2015).
Sự thiếu các nhân tố cảm ứng của tự nhiên ở đó các vi khuẩn sinh sống trong môi trƣờng nuôi cấy nhân tạo là một nguyên nhân chính cần đƣợc khắc phục để thu nhận đƣợc các nguồn gen vi khuẩn sinh kháng mới. Các phƣơng bổ sung các nhân tố tự nhiên trong môi trƣờng nuôi cấy đã đƣợc thiết lập, tuy nhiên ở nhiệt độ khử trùng cao có thể làm biến tính các nhân tố hỗ trợ sinh trƣởng (đặc biệt là các loại vitamin) cho các chủng vi khuẩn trong phòng thí nghiệm. Kết quả là, thu nhận nguồn gen vi khuẩn tiềm năng mới cho nghiên cứu về hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên còn nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu này, nhóm vi khuẩn đất sinh trƣởng chậm đƣợc phân lập thông qua môi trƣờng dịch chiết đất nhằm thu nhận đƣợc nguồn gen vi khuẩn mới tiềm năng cho phát hiện kháng sinh tự nhiên và từng bƣớc kiểm soát bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Enterococci và Streptococci gây ra.
Mục tiêu nghiên cứu Tuyển chọn và xác định đƣợc đặc điểm sinh học của chủng vi khuẩn đất sản sinh hoạt chất kháng Enterococci và Streptococci. Xác định đƣợc các hoạt chất sinh học sản sinh trong dịch lên men của chủng vi khuẩn kháng Enterococci và Streptococci. Nội dung nghiên cứu - Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn đất sinh trƣởng chậm có khả năng sinh hoạt chất kháng khuẩn - Định danh phân tử chủng phân lập - Đặc điểm nuôi cấy của chủng phân lập - Tách chiết và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn tổng số - Phân tích hoạt tính kháng khuẩn tổng số bằng sắc ký bản mỏng và hệ thống sắc khí khối phổi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tóm lƣợc lịch sử khám phá kháng sinh Kháng sinh còn đƣợc gọi là trụ sinh là những chất đƣợc chiết xuất từ các vi sinh vật, nấm, đƣợc tổng hợp hoặc bán tổng hợp, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thƣờng là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn. Theo quan niệm truyền thống, kháng sinh đƣợc định nghĩa là những chất do các vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…) tạo ra có khả năng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi bằng quá trình bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học, do đó định nghĩa kháng sinh cũng thay đổi, hiện nay kháng sinh đƣợc định nghĩa là những chất có nguồn gốc vi sinh vật, đƣợc bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học. Với liều thấp nhất có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh (Bộ Y tế, 2015) Chất kháng sinh (antibiotic) đƣợc phát hiện và ứng dụng sớm nhất là penicilin, vào những năm 40 của thế kỷ XX.
Tuy nhiên, thực tế, từ lâu con ngƣời đã biết dùng nấm mốc (mold, milew) trên đậu phụ để đắp chữa các vết thƣơng nhỏ. Nhiều thế kỷ trƣớc tại châu Âu, châu Mỹ, ngƣời ta đã biết cách dùng bánh mỳ, ngô hay giày da cũ đã lên mốc để điều trị các vết lở loét, lên mủ ở da. Theo quan điểm khoa học hiện nay thì thì móc meo trên đậu phụ hay trên bánh mỳ thực tế có chứa chất kháng sinh, chỉ có điều ngƣời xƣa chƣa biết vi khuẩn, chân khuẩn là gì, lại càng không biết chất kháng sinh là gì. Năm 1928, Flemming là nhà vi khuẩn học làm việc tại Bệnh viện Saint Mary ở London.
Trong khi kiểm tra các đĩa nuôi cấy chứa vi khuẩn, ông phát hiện hiện tƣợng khác thƣờng: nấm xuất hiện trên đĩa và phát triển thành các tảng nấm; xung quanh tảng nấm, những mảng vi khuẩn đã bị phá hủy. Ông kết luận rằng, nấm này đã tạo 1 chất giết chết các vi khuẩn. Loại nấm mọc giống nhƣ dạng các bụi cây này sau đƣợc đặt tên khoa học là penicillium 4 notatum, còn chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn đƣợc đặt là pennicillin. Ban đầu, penicillin đƣợc dùng chữa các vết thƣơng bề mặt, nó chỉ mang lại thành công nhất định vì trong penicillin thô có rất ít các hoạt chất.
Flemming đã cố gắng tách penicillin nguyên chất nhƣng không thành công. 10 năm sau, ở Oxford, dƣới sự chỉ đạo của Howara Walter Florey - nhà giải phẫu bệnh học ngƣời Australia và Ernst Boris Chain đã nghiên cứu với mục đích là chế tạo penicillin trên quy mô công nghiệp.