Chương 1: Tổng quan các vấn đề liên quan đến bột huỳnh quang và tính chất phát quang của các ion kim loại chuyển tiếp trong mạng nền. Chương 2: Trình bày các bƣớc thực nghiệm để chế tạo bột huỳnh quang ZnAl2O4:Cr3+ bằng phƣơng pháp Sol-gel và các phép đo phân tích hình thái, cấu trúc và tính chất quang của vật liệu. Chương 3: Trình bày các kết quả nghiên cứu về hình thái bề mặt, cấu trúc và tính chất quang của bột huỳnh quang ZnAl2O4:Cr3+. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm chế tạo đèn LED đỏ nhằm ứng dụng trong nông nghiệp.
e 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU HUỲNH QUANG 1. Hiện tƣợng phát quang Phát quang là hiện tƣợng khi cung cấp năng lƣợng cho vật chất (ngoại trừ bức xạ nhiệt), một phần năng lƣợng ấy có thể đƣợc vật chất hấp thụ và tái phát xạ. Cách khác, hiện tƣợng khi các chất nhận năng lƣợng kích thích từ bên ngoài và phát ra ánh sáng đƣợc gọi là sự phát quang.
Phân loại: có nhiều cách khác nhau để phân loại hiện tƣợng phát quang, cụ thể là: - Dựa vào dạng của năng lƣợng kích thích: Quang phát quang (Photoluminescence) Cathode phát quang (Cathadoluminescence) Điện phát quang (Electroluminescence) Cơ phát quang (Triboluminescence – Mechanical energy) Hóa phát quang (Chemiluminescence) Phóng xạ phát quang (Radioluminescence) - Dựa vào thời gian bức xạ kéo dài sau khi ngừng kích thích ở nhiệt độ phòng: Huỳnh quang Lân quang - Dựa vào tính chất động học của quá trình phát quang: Phát quang của các tâm bất liên tục Phát quang tái hợp e 5 - Dựa vào cơ chế chuyển dời từ trạng thái kích thích về trạng thái cơ bản Phát quang tự phát Phát quang cƣỡng bức 1. Cơ chế phát quang của vật liệu Khi các electron đang ở trạng thái mức năng lƣợng thấp, nhận đƣợc năng lƣợng từ bên ngoài thì sẽ chuyển lên mức năng lƣợng cao hơn gọi là trạng thái kích thích. Ở trạng thái kích thích là không bền, electron chuyển về mức năng lƣợng thấp hơn và giải phóng năng lƣợng. Nếu năng lƣợng đƣợc giải phóng ra dƣới dạng ánh sáng (phôtôn), thì ta gọi đó là sự phát xạ ánh sáng (phát quang).
Nhƣ vậy, sự phát quang của vật liệu gắn liền với quá trình tái hợp giữa hạt dẫn và lỗ trống [9]. Giản đồ Jablonski trình bày quá trình hấp thụ và giải phóng năng lƣợng của điện tử nhƣ trên hình 1. Giản đồ Jablonski mô tả sự hấp thụ ánh sáng và sự phát quang [9] e 6 - Khi hấp thụ sóng điện từ, các phân tử bị kích thích và điện tử chuyển từ trạng thái cơ bản (So) lên các trạng thái kích thích (S1, S2 hoặc Sn). Quá trình này gọi là quá trình hấp thụ.
Các điện tử ở trạng thái kích thích thƣờng không bền nên luôn có xu hƣớng chuyển về trạng thái cơ bản. - Các điện tử dịch chuyển từ trạng thái Sn→S1 (chuyển dời nội) sẽ không làm phát ra phôtôn. - Chỉ có quá trình tái hợp của điện tử ở trạng thái kích thích dạng singlet về trạng thái cơ bản singlet S1→ S0 mới sinh ra phôtôn (hiện tƣợng huỳnh quang). Thời gian thực hiện bƣớc chuyển này khoảng 10-9-10-6 s nên quá trình phát huỳnh quang của vật liệu bị dập tắt rất nhanh ngay khi tắt nguồn sáng kích thích.
- Bên cạnh đó một số điện tử ở trạng thái kích thích singlet có spin ngƣợc đƣợc dịch chuyển sang trạng thái triplet (có spin cùng chiều với điện tử singlet) và thực hiện chuyển dời S1→T2→T1→S0 sinh ra phôtôn (hiện tƣợng lân quang). Thời gian thực hiện bƣớc chuyển này khoảng 10-4-10-2 s, do đó sau khi ngừng kích thích chúng ta vẫn thấy sự phát quang của vật liệu [10]. Cơ chế phát quang của bột huỳnh quang Bột huỳnh quang gồm 2 thành phần chính đó là chất nền (mạng nền) và chất pha tạp (tâm kích hoạt, tâm phát quang). - Mạng nền: là những chất điện môi có độ rộng vùng cấm lớn (trong suốt với ánh sáng nhìn thấy), có độ bền cơ-hóa-nhiệt cao.
- Chất pha tạp: là những ion có cấu hình điện tử với một số lớp chỉ lấp đầy một phần. Ví dụ nhƣ các ion kim loại chuyển tiếp có lớp d chƣa bị lấp đầy, các ion đất hiếm có lớp f chƣa bị lấp đầy. Do đó nó có thể hấp thụ điện tử với xác suất cao. Khi kích thích vật liệu bằng bức xạ điện từ, các điện tử có thể bị vật e 7 liệu hấp thụ mạnh.
Sự hấp thụ có thể xảy ra tại chính tâm kích hoạt hoặc tại chất nền. Ở các trạng thái kích thích, các điện tử dịch chuyển về các mức năng lƣợng thấp của ion pha tạp và sinh phôtôn. Một ví dụ điển hình về cơ chế phát xạ của bột huỳnh quang đƣợc trình bày trên hình 1. Ở đây mạng nền là vật liệu điện môi KLa(WO4)2 và chất pha tạp là ion Eu3+.2 cho thấy, có hai trƣờng hợp của quá trình hấp thụ điện tử đó là: (i) sự dịch chuyển của điện tử từ mức 7F0 lên đáy vùng dẫn và (ii) lên các trạng thái mức năng lƣợng cao của ion Eu3+.
Quá trình phát xạ do chuyển mức 5D1, 5D0 về 7Fj (j=0-6) của ion Eu3+ gây ra. Sơ đồ mô tả quá trình hấp thụ điện tử và phát xạ ánh sáng bột huỳnh quang KLa(WO4)2:Eu3+ [11] 1. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU LOẠI BỘT HUỲNH QUANG Có thể thấy rằng nghiên cứu bột huỳnh quang đang đƣợc quan tâm sâu rộng trên toàn thế giới. Nhƣ chúng tôi đã đề cập ở trên, xu hƣớng thay thế tất e 8 cả các loại đèn truyền thống bằng đèn LED sẽ là tất yếu bởi đèn LED có các ƣu điểm vƣợt trội.
Do đó, việc nghiên cứu các loại bột huỳnh quang phát xạ trong các vùng ánh sáng khác nhau nhằm ứng dụng trong đèn LED đang diễn ra hết sức khẩn trƣơng. Sơ đồ biểu mô tả quá trình nghiên cứu sự cải thiện các bột huỳnh quang ứng dụng cho đèn LED đƣợc trình bày trên hình 1. Quá trình phát triển của bột huỳnh quang cho đến nay có thể chia làm 4 thế hệ nhƣ sau: Thế hệ thứ nhất: Phát triển các loại bột huỳnh quang cho hiệu suất quang cao trên cơ sở mạng nền YAG, Silicate Thế hệ thứ hai: Nghiên cứu phát triển các loại bột huỳnh quang không những có hiệu suất quang cao mà phải có độ bền nhiệt cao. Thế hệ thứ ba: Các loại bột huỳnh quang có hệ số trả màu cao (CRI) Thế hệ thứ tư: Các loại bột huỳnh quang có hiệu suất, CRI cao và gam màu rộng.
Sơ đồ mô tả quá trình nghiên cứu phát triển của các loại bột huỳnh quang [12] e 9 1. CẤU TRÚC SPINEL Công thức tổng quát của spinel có dạng AB 2O4 (trong đó A là cation hoá trị 2, B là cation hoá trị 3). Spinel có cấu trúc tinh thể lập phƣơng tâm mặt thuộc nhóm không gian O7h (Fd3m) với các cation A2+ và B3+ đƣợc sắp xếp vào các hốc tứ diện và bát diện tƣơng ứng [5]. Mỗi ô cơ sở mạng gồm có 8 phân tử AB2O4, trong đó có 32 ion ôxi, 16 cation B và 8 cation A.
Cấu trúc ô mạng spinel thuận đƣợc mô tả trên hình 1. Cấu trúc tinh thể spinel thuận [5] Ta có thể tính đƣợc số cation, số anion và số hốc tứ diện T (phân mạng A), số hốc bát diện O (phân mạng B) khi tƣởng tƣợng ghép 8 khối lập phƣơng tâm mặt lại với nhau. Số ion ôxi là 32; số hốc T là 64 và số hốc O là e 10 32. Nhƣ vậy mỗi ô cơ sở spinel có 64 + 32 = 96 hốc T và hốc O.
Do tổng số cation chỉ có 8 + 16 = 24 cation, nên chỉ có 1/4 hốc trống chứa cation, còn 3/4 hốc trống để không. - Nếu 8 cation A2+ nằm trong 8 hốc T, 16 cation B3+ nằm vào hốc O thì mạng spinel đƣợc gọi là thuận hay hoàn hảo. - Nếu 8 cation A2+ nằm trong 8 hốc O, 8 cation B3+ nằm trong hốc T và 8 cation B3+ nằm trong hốc O thì mạng spinel đƣợc gọi là spinel đảo. - Nếu 24 cation A2+ và B3+ đƣợc phân bố vào các hốc T và O thì ta có spinel trung gian.
- Sự phân bố các cation A2+ vào vị trí tứ diện, và B3+ vào vị trí bát diện đƣợc quyết định bởi ba yếu tố sau: Bán kính ion: Hốc T có thể tích nhỏ hơn hốc O do đó chủ yếu các cation có kích thƣớc nhỏ hơn đƣợc phân bố vào hốc T. Thông thƣờng rA2+ lớn hơn rB3+ nghĩa là xu thế chủ yếu tạo thành spinel đảo. Cấu hình electron: Tuỳ thuộc vào cấu hình electron của cation mà chúng thích hợp với một kiểu phối trí nhất định. Ví dụ Zn2+, Cd2+ có cấu hình 3d10, chủ yếu chiếm các hốc T và tạo nên spinel thuận, còn Fe2+, Ni2+ có cấu hình 3d6 và 3d8, lại chiếm các hốc O và tạo thành spinel đảo.
Năng lƣợng tĩnh điện: Năng lƣợng tĩnh điện của mạng spinel tạo nên bởi các ion lân cận khi tạo thành cấu trúc spinel. Sự phân bố sao cho các cation A2+ nằm vào hốc T, B3+ nằm vào hốc O là thuận lợi về năng lƣợng nhất. CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT QUANG CỦA ZnAl2O4 :Cr3+ Hình 1. 5 Cấu trúc tinh thể của ZnAl2O4 [13] Kẽm aluminat (ZnAl2O4) có cấu trúc của một spinel bình thƣờng (c =0) với công thức hóa học tinh thể (Zn)[Al2]O4.
Kẽm aluminat là bán dẫn vùng cấm rộng, đã thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc. Vật liệu ZnAl2O4 sử dụng làm nền để pha tạp các ion kim loại chuyển tiếp hoặc đất hiếm nhằm ứng dụng trong chế tạo điốt phát quang ánh sáng trắng (WLED) cũng đang là một chủ đề đang đƣợc chú trọng bởi nhiều nhóm nghiên cứu trên toàn thế giới. Trên mạng nền ZnAl2O4 việc đồng pha tạp Cr với các ion kim loại khác với mong muốn điều khiển đƣợc khả năng phát xạ/hấp thụ cũng đƣợc chú trọng [4]. Năm 2011, Vijay Singh và cộng sự [6] đã chế tạo thành công bột ZnAl2O4:Cr3+ bằng phƣơng pháp nổ.
Bằng phép đo phổ EPR họ đã chứng minh ion Cr3+ khuếch tán và thay thế Zn2+ trong mạng nền ZnAl2O4. Kết quả của bài báo còn cho thấy vật liệu ZnAl2O4:Cr3+ hấp thụ mạnh ở hai vùng tại cực đại ~421 nm, ~535 nm và phát xạ xung quanh bƣớc sóng 700 nm. Bằng phƣơng pháp Sol-gel, S. Motloung và cộng sự [4] đã nghiên cứu ảnh hƣởng e 12 của ion Cr3+ lên cấu trúc và tính chất quang của bột ZnAl2O4.
Khác với công bố [6], họ đã chứng minh rằng Cr3+ có thể chiếm vị trí tứ diện (tetrahedral sites) hoặc bát diện (octahedral site) trong mạng nền.