CHƯƠNG 1 NĂNG LƯỢNG MAT TROL VÀ CÁC PHƯƠNG PHAP KHAI THÁC SỬ DỤNG “Chương này luận vin sẽ trình bảy những nội dung tổng quan ~ Nguồn năng lượng mặt trời = Năng lượng mặt trời trên thể giới, tiểm năng NLMT tại Việt Nam và Ninh Thuận ~ Các phương pháp khai thác sử dung năng lượng mat trời ~ Các công nghệ chế tạo Pin MT = Hệ thống NLMT độc lập và nỗi lưới 1,1 Nguồn năng lượng mặt trời 11. Bức xụ mặt rồi Mặt trời là quả cẩu lửa không lỗ với đường kính trung bình khoảng 1,39 triệu km và ở cách Trái dit khoảng 150 trigu km. Nhiệt độ bề mặt của mặt trời vào khoảng 580K, trong khi đỏ nhiệt độ ở vùng trung tâm của mặt trời rất lớn, vào khoảng 8. Mat trồi được xem là một lò phản ứng nhiệt hạch hoạt động iên tục CO 2 loại bức xạ mặt trời (BXMT): BXMT đến bên ngoài bầu khí quyển và BKMT đến trên mặt đất.11 Bắc xe mặt trời đến bên ngoài bầu kh quyỗn BXMT đến bên ngoài bầu khi quyền có giá trị khá ốn định ứng với một vị trí khảo sát sự thể và có phương rit rỡ rằng, dé là đường ni từ mặt ti đến vị tí khảo sắt.
Các khảo sắt thực tế cho thấy - về mặt giá trị - BXMT đến bên ngoài bầu khí quyển cũng, 6 những biển đổi nhọ, Có 2 lý do gây ra sự biển đổi này: sự biến đổi lượng bức xạ cut phát từ mặt trời do các hiện tượng điễn ra trong nội bộ mặt trời và sự biển đổi của khoảng cách từ mặt rời đến Trái đt, Đôi với các bài toán kỹ thuật, có thé xem cường độ bức xạ phát ra từ mặt rồi là ôn định và BXMT đến bên ngoài blu khí quyển là BXMT đến trên mặt đất nhưng không tính đến ảnh hưởng của bau khí quyển.2 Bức xạ mặt trời đồn trên mặt đắt Khi các tia BXMT di vào bầu khí quyển, do ảnh hưởng của bầu khí quyển và các vật thể li ti có trong bầu khí quyển cho nên các tia BXMT sẽ phải chịu hiện tượng hấp thy và phân xạ. VỀ cơ bản, hiện tượng hip thụ các tia BXMT là do 6z6n và hoi nước, mức: độ hap thụ kháe nhau tủy theo bước sóng. Ứng với các tỉa cực tím có bước sóng nhỏ hơn 0,29m thì khả năng hp thụ các tia bức xạ của 6z6n rit mạnh, ứng với các ta cổ bude sóng lớn hon 0,294m thi khả năng hấp thụ của ôzôn giảm xuống đáng kể, khi bước sóng vượt qué 0,35m thi ôzôn không còn khả năng hap thy các tia bức xạ được nữa. Trong khi đó, hơi nước có khả năng hap thụ mạnh các tia hing ngoại.
Đặc biệt, ở trong vùng lân cận các bước sóng lạm, Ì.lum và I,äum thi khả năng hip thụ các tia hồng ngoại của hơi nước rit mạnh. Chính hiện tượng bắp thụ làm giảm cường độ của sắc tia bức xạ và làm cho quang phổ của cúc tia bức xạ đến mặt đất thu hẹp lạ, cổ thé nói các tia bức xạ có bước sóng lớn hơn 2,3m rat khó đến được bẻ mặt Trái dat. Cùng với hiện tượng hấp thụ, hiện tượng phản xạ làm một bộ phận của tia bức xạ bị đổi bị phản xạ không rõ rằng. Kết quả của các hiện tượng vừa nêu là, càng tién dé è cường độ của các tỉa bức xạ tông cảng.
Một cách tổng quit, người ta xem lượng bic xa tổng di vào bầu khí quyển để cđến một bé mặt khảo sắt nào đó trên mặt dit bao gồm hai thành phần là trực xạ và khuếch tán. Thanh phần trực xạ có phương rõ ring, đó là đường thẳng nổi từ mặt trời đến dia điểm khảo sit. Trong khi đó, đối với thành phần khuốch tin, việc xác định phương hướng và cường độ của thành phan khuếch tan la khả phức tạp.2 Nguẫn gắc ning lượng mặt tồi Năng lượng mặt tời (NLM) có vai td quan trong đối với sự tổn tại và phát tiễn của các yêu tố sự sống trên Trái đất. “rước hết, NLMT là nguồn năng lượng khổng lỗ có tỉnh ti sinh.
NLMT được sinh ra do các phản ứng nhiệt hạt nhân tổng hợp các hạt nhân đồng vị Hydro (H) để tạo ra các hạt nhân Heli (He) liên tục xảy ra trên Mặt trời. Công suất bức xạ của Mặt trời là 3.863,10”°W, nhưng phần NLMT đến bề mặt trái đắt chil 7,57. 'Ngoài khí quyển Trái đất mật độ NLMT là 1. Nhưng khi mặt đất các tia mật rời phải đĩ qua lớp khí quyên Trái đắt nên bị mắt khoảng 30% do các hiện tượng hap thy, tán xạ bởi các phân tử khí, hơi nước.
của lớp khí quyền. Vì vậy, trên bể mặt “Trái đắt, mật độ BXMT chỉ còn khoảng 1. Mặc dù ở các vĩ độ khác nhau thi NLMT khác nhau, nhưng nhìn chung NLMT phân bố khắp trên bẻ mặt trái đất. cũng có thể khai thác và ứng dung nguồn năng lượng này Bản chất của BXMT là sóng điện từ có phổ bước sóng trải từ 10 jum đến 10! um, trong đồ mắt người có thé nhận biết được dai sóng có bước sóng từ 0.4 đến 0,7m và được gọi là ang sing nhìn thấy.
Ving bức xạ điện từ có bước sóng nhỏ hơn 0,4m được gọi là ving sóng tử ngoại. Còn vũng có bước sống lớn hơn 0.7um được gọi là vũng hồng ngoại. Do bản chất của sing điện từ nên NLMT là nguồn năng lượng không có phát thải, không gây 6 nhiễm môi trường hay được gọi là nguồn năng lượng sạch Ngoài lớp khí quyén tái đất BXMT chỉ có một thành phần. Dó là ác ta mặt tời đi thẳng phát ra từ mặt trời.
Nhưng khi tới mặt đi. do các hiện tượng tin xạ trong lớp khí quyển Trái đất, bức xạ mat tời bị biển đổi và gồm 3 thành phần (1)- Thành phần trực xạ gồm các tia mặt rời đi thẳng từ mặt tời đến mặt đắt. Nhờ các tia trực xạ này mã ta có thể nhìn thấy mặt trời; (2) Thành phần nhiễu hay tán xạ gồm các tia mặt trời tới mặt đất từ mọi phương trên. bầu tời do hiện tượng tin xạ của tia mặt trời trên các phân từ khí, hoi nước, các hat bui,.
Nhờ các tia tân xạ này mà chúng ta vẫn có ánh sing ngay cả những ngiy mây mù, không thé nhin thấy mặt trời, ở trong nhà, dưới bóng cây.: “Tổng hai thành phần trên được gọi là ng xạ của bức xạ mặt rời ở mặt đất. Các trạm Khí tượng thường do các thành phần này nhiều lần tong một ngày và liên tye tong nhiều năm để có số liệu đánh giá tiềm năng NLMT. (G)- Thành phần phan xa từ mặt nền ở nơi quan sát bay nơi đặt bộ thu NL.MT, nó phụ thuộc vào hệ số phản xạ của mặt nền và tổng xạ tới. Thành phần này chỉ được phân.
toán các bộ thu NLMT, Trong trường hợp chung nó là một phần rắt nhỏ trong thành phần bức xạ tần xe 1.2 Năng lượng mặt trải trên thé giới và iềm năng NLMT tại 1. Quá trình phát tin và trién khai ứng dung năng lượng mặt trời EMT trung bình trên bé mặt Trái đất nằm trong khoảng 150 đến 300W/ ay từ 3,6 dén 7,0kWhim'/ngay. NLMT từ lâu đã được con người khai thác sử dụng bing các phương pháp tự nhiên, trực tgp và đơn giản như phơi sly (quần áo, vật dụng: nông, lâm, hải sn; sưởi ẩm.) ‘Tuy nhiên cách sử dụng NLMT theo các phương cách tự nhiên nói trên cị hiệu quả thấp và hoàn toàn thụ động NLMT có thể sử dụng dưới dạng nhiệt hay biến đổi thành. Điện từ mặt trời là dạng điện năng được tạo ra khi biển đối NLMT thành điện năng nhờ hiệu ứng quang điện (photovoltaic effect, viết tit PV) một cách trực tiếp, hoặc nhờ các hệ thống nhiệt điện thông qua hiệu ứng hội tự tỉa mặt ti (concentrated solar power, viết tắt CSP) một cách gián tiếp.
Các hệ thống CSP sử dụng các thấu kính hay các gương hội ty và "hệ thống “dõi theo mặt rời” (solar tracking systems) để hội tụ một diện tích lớn các tia mặt trời vio một diện tích nhỏ hơn (gọi là điểm hay đường hội tụ). Nex ồn nhiệt hội tụ này sau đó được sử dụng để phát điện. Các bệ thống này gọi là hệ nhiệt điện mặt ti được gọi là hệ thống điện PV. {Ging dung quan trọng đầu tiên của pin mặt trời l nguồn dự phòng (backenp) cho về tinh nhân tạo Vanguard I vào năm 1958, nó đã cho phép truyền tin hiệu về Trải đất hơn một năm sau khi nguồn Acqui điện hóa đã bị kiệt.
Sự hoạt động thành công này của pin mặt ti trên vệ tỉnh đã được lap lại trong nhiều vệ tỉnh khác của Liên Xô và Mỹ. Vào cuối những năm 1960, PV đã trở thành nguồn năng lượng được được sử dụng. ring cho vệ tinh. PV đã có một vai tr rất quan trọng công nghệ vệ tỉnh thương mại và nó vẫn giữ vị tr đó đối với hạ ting viễn thông ngày nay.
"Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ nên hiện nay con người đã biết khai thác NLMT một cách hiệu qua và chủ động hơn nhờ các công nghệ hiện đại. Nhà máy nhiệt điện mặt trời thương mại đầu tiên được xây dựng trong những năm 1980, Nhà máy có công suất lớn nhất là 354MW xây dựng tại Sa mạc Mojave ở California (Mỹ). Các nhà máy lớn khác như nhà máy Solnova (150MW) và Andasol (100MW), cả hai đều ở Tây Ban Nha. Gitta các năm 1970 và 1953 các dự án PV tang rất nhanh, nhưng đầu những năm 1980 do giá dầu giảm nên làm giảm nhịp độ phát triển của PV, Từ 1991, sự phát triển của PV lại được gia tốc do các vin đề khổ khăn về cung cắp dẫu và khí, do sự nồng lên của "ri đắt, và sự cải thiện của công nghệ sản xuất PV, dẫn đến tính kính tẾ của PV trở nên tốt hơn.
Sàn xuất PV tăng trung binh 40%inim từ năm 2000 và công suất lắp đặt đã đạt đến 10,6GW vào cuối năm 2007 và 14,73GW vào năm 2008. Đến đầu năm 2014 thứ bậc của 5 cường quốc điện mặt trời được sắp xếp theo thứ tự về tổng công suất tinh ng Gigawatt(s6 đầu) và tỷ lệ điện năng mặt tri trong tổng điện năng quốc gia (66 thứ ha) như sau: Đức (35,65GW; 5.2 Tình hình ứng dụng năng lượng mặt trời trên thé giới Năng lượng tái tạo (NLT) đã chiếm tỷ lệ 22,1% trong tổng sản xuất điện năng trên toàn cầu tinh đến nin 2013, Nếu kể thêm cả sản xuất nhệt thi tỷ lệ NLT trong tổng sản xuất điện năng trên toàn cầu còn có tỷ lệ cao hơn nhiễu, Đặc biệt, giai đoạn 2008- 2013, c độ tăng trưởng NLTT nói chung và NLMT nói riêng đạt giá trị khá cao (Bảng 1.