Chương 1: Một số van đề lý luận về chế định dân chủ đại diện Chương 2: Thực trạng chế định dân chủ đại diện ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chế định dân chủ đại diện ở Việt Nam 10 PHẢN NỘI DUNG CHUONG MOT: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CHE ĐỊNH DÂN CHỦ DAI DIEN Thực hiện quyền làm chủ thông qua đại diện là một cách thức quan trong dé người dân truyền tải được ý chí, nguyện vọng của mình vào quá trình quản lý xã hội của nhà nước. Qua đó, bản chất và vai trò của nhà nước, với tư cách tô chức bảo vệ trật tự công của toàn xã hội sẽ ngày càng được nâng cao; các văn bản pháp luật của nhà nước sẽ càng gần gũi với công lý và ý chí tập thể hơn. Để làm rõ những điều trên, chương này hướng tới việc giải quyết các góc độ lý luận dé làm nên tảng cho việc xem xét các mặt thực trạng cũng như đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Cụ thể, bắt đầu từ những nghiên cứu về nhận thức và tư tưởng của nhân loại được vun đắp và gạn lọc qua nhiều thế hệ, chương này làm rõ tầm quan trọng của chế định dân chủ đại diện và các yếu tố cần thiết phải đảm bảo để phát huy vai trò này trong thực tiễn.
Khai niệm, đặc diém, vai tro của chê định dân chủ dai diện Trước khi đi vào những nội dung cụ thê của chê định dân chủ đại diện, chúng ta cân làm rõ những vân đê cơ bản nhăm định hình cách hiêu vê chê định này. Cụ thể là thông qua một số khía cạnh như sau: 1. Khái niệm chế định dân chủ đại diện Để làm rõ khái niệm chế định dân chủ đại diện, chúng ta phải nhìn nhận nó dưới một số góc độ như sau: Đầu tiên là về dân chủ đại diện. Trước hết, cần phải thấy rằng, dân chủ là hình thức tô chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đăng, tự do và quyền con 11 người.
Dân chủ cũng được vận dụng vào tô chức và hoạt động của những tô chức và thiết chế chính trị nhất định". Khái niệm dân chủ cũng gan liền với quyền dân chủ. Cụ thể, quyền dân chủ chính là những yêu sách, nhu cầu nội tại của mỗi cá nhân, với tư cách là công dân đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý dân chủ trong một thiết chế xã hội dân chủ nhằm bảo đảm sự tham gia một cách tự do, bình dang va day đủ vào các công việc của Nhà nước và toàn bộ đời sống xã hội của con người. Quyền dân chủ thực chất chính là yêu sách về bình đắng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với Nhà nước, bảo đảm cho cá nhân khả năng hành động theo ý mình, cho sự tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không có hại cho người khác, và do đó cho khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân.
Dé thực hiện quyền dân chủ, có hai phương thức thường được nói đến là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Trong đó, dân chủ đại diện có thé hiểu là cách thức người dân thực hiện quyền làm chủ thông qua người đại diện cho mình. Tiếp theo là về chế định. Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định”.
Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định có một đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại va thống nhất với nhau, chúng không ton tại một cách biệt lập. Việc xác định ranh giới giữa các chế định nhăm tạo ra khả năng dé xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội. Và phải đặt các chế định trong mối liên hệ qua lại trong một chỉnh thể thống nhất của pháp luật cũng như một ngành luật. Mỗi chế định pháp luật dùng mang đặc điểm riêng những nó cũng phải tuân theo các quy luật vật động khách quan, chiu sự ảnh hưởng và tác động của chế định khác trong hệ thống pháp luật.
Khi nói tới chế định dân chủ đại diện, từ khía cạnh ' Hoàng Văn Nghĩa, Dân chủ và việc thực hiện quyên dân chủ, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 1/2013. 2 Truong Dai hoc Luật Hà Nội, Gido trinh Ly luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Ha Nội, 2011. 12 này ta có thể hiểu răng nó bao gồm nhiều quy phạm pháp luật khác nhau, gắn với những nội dung cụ thé khác nhau nhưng đều nằm trong những chỉnh thé rộng lớn hơn là chế định về dân chủ, ngành luật hiến pháp và cao nhất là thuộc về hệ thống pháp luật. Như vậy, có thé định nghĩa chế định dân chủ đại diện như sau: Chế định dân chủ đại diện có thé hiểu là tổng thé các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội xác lập quyền làm chủ của người dân thông qua cơ chê đại diện.
Đặc điểm của chế định dân chủ đại diện Dé thấy được đặc điểm của dân chủ đại diện, chúng ta phải nhìn nhận vào mối liên hệ cũng như điểm khác biệt giữa nó với hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức biểu hiện của cùng thực thể dân chủ, cả hai hình thức này đều đóng một vai trò quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ, là hai hình thức không thé thiếu được của việc quản lý, điều hành, kiểm soát và thực thi quyền lực của nhân dân. Việc vận dụng chúng hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình cụ thể. Giữa hai hình thức này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại và chuyên hoá cho nhau.
Để thực hiện được dân chủ đại diện thì phải cần đến dân chủ trực tiếp, chăng hạn việc bầu cử lựa chọn ra các đại biéu Quốc hội hay đại biéu Hội đồng nhân dân, nghĩa là trước khi mỗi công dân chuyên giao quyền lực của mình cho người đại diện ư những đại biéu dân cử và cho Nhà nước thì họ đã phải thực hiện dân chủ trực tiếp bằng cách: thứ nhất, tham gia vào hội nghị hiệp thương nhân dân để lựa chọn các ứng cử viên hoặc thông qua tiếp xúc trực tiếp với một hay một số ứng cử viên mà mình sẽ lựa chọn; thứ hai, thông qua việc bỏ phiếu kín, trên nguyên tắc phố thông đầu phiếu, công bằng, công khai và minh bạch, dé lựa chọn cho mình một đại biểu ưu tú dựa trên ý chí quyết định của chính mình. Ngược lại, đến lượt mình, các đại biểu Quốc hội 13 (nghị sĩ) khi thực hiện quyền lực của công dân (cử tri) giao cho thì lại cần phải dựa trên phương thức dân chủ trực tiếp, nghĩa là tham gia một cách trực tiếp va thé hiện ý chí của mình trong việc lập pháp cũng như các công việc quan trọng khác của Nhà nước. Vai trò của chế định dân chủ đại diện Dân chủ đại diện là một hình thức nhân dân làm chủ quyền lực nhà nước. Vì vậy, vai trò của dân chủ đại diện có thé xét tới trong môi quan hệ giữa người dân với nhà nước.
Mối quan hệ đó biểu hiện trên các khía cạnh như: (1) Nhà nước có thực sự là của người dân hay không?; (2) Người dân có thê làm gì khi nhà nước trở nên sai trái?; và (3) Nhà nước và người dân có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề tồn tại trong xã hội như thế nào? 1. Dân chu đại diện dam bao cho tính chính danh của nhà nước Một trong những tính năng quan trọng của nhà nước là cai tri. Nhà nước thực hiện việc cai trị của mình một cách thường xuyên, liên tục; thông qua nhiều biện pháp khác nhau với nhiều mức độ can thiệp khác nhau. Vậy đâu là lý do cho điều đó? Hầu hết các nước theo chủ nghĩa hợp hiến, đề cao hiến pháp như một bản khế ước xã hội đều dựa trên những quan điểm cô xưa dé biện minh cho sự tồn tai của nhà nước.
Thomas Hobbes và John Locke đều đưa ra những kiến giải về sự cần thiết của nhà nước với tư cách một chủ thé cứu vớt xã hội ra khỏi trạng thái tự nhiên, vô chính phủ'. Nói một cách đơn giản, nhà nước ton tại với sứ mệnh duy trì trật tự xã hội bởi vì đó là nguyện ước chung của mọi cá thê. Xét về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, có thé thay viéc hinh thanh mot bộ máy cai tri tách biệt khỏi xã hội là một tất yếu lich sử. Nếu như mô hình thi tộc, bộ lạc thực hiện việc quản tri với sự đồng thuận cua tat cả các thành viên, gia đình 3 Tống Đức Thảo, Những lập luận chính trị căn bản của chủ nghĩa lập hiến, Tạp chí Lý luận chính trị, s6 3/2014.
14 thì nhà nước được coi như một tổ chức chuyên nghiệp, “tựa hồ” như đứng trên xã hội”. Chính sự tách biệt nhất định giữa nhà nước và xã hội khiến chúng ta phải đặt ra vẫn đề tính chính danh của nhà nước, tức là trả lời cho câu hỏi vì sao nhà nước có quyền cai tri, quản tri xã hội. Bởi lẽ, nhà nước cũng là một sản phẩm sinh ra từ xã hội mà thôi. Tính chính danh của một nhà nước sẽ khiến người dân trong xã hội chấp nhận cho nó tồn tại và duy trì quyền lực của mình.
Tuy nhiên, từ những góc độ khác nhau, có nhiều quan niệm giải thích cho nguồn gốc của quyền lực nhà nước như: - Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ những thế lực siêu nhiên. Có thể tạm gọi chung đây là thuyết thần quyền. Các học thuyết mang tính thần quyền lý giải sự chính đáng của quyền lực nhà nước là do những thế lực siêu nhiên như Trời, Thuong dé, thần thánh ban cho và vì thé mà sự cai trị của nhà nước là chính đáng vì con người có nghĩa vụ phải tuân phục các thé lực siêu nhiên đó nếu không muốn bị trừng phạt. - Quyén lực nhà nước bắt nguồn từ những sức mạnh thế tục như sức mạnh gia đình (con phải phục tùng cha), sức mạnh bạo lực (kẻ yếu phải phục tùng kẻ mạnh).
Cu thé, tính chính đáng của nhà nước thé hiện ở chỗ nó là tổ chức của những quyền lực được tạo nên từ sức mạnh đủ dé đàn áp các bộ phận khác trong xã hội.