Chương 1 Khu vực HTĐ Quốc gia Khu vực 1: Lưới điện Tây Bắc Bắc Bộ Khu vực 2: Lưới điện Tây nam Bộ Khu vực 3: Lưới điện Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu Tây Bắc Bắc Bộ Khu vực 4: Lưới điện Nam Trung Bộ Khu vực 5: Lưới điện Miền Bắc trừ khu vực 1 Khu vực 6: Lưới điện Miền Nam trừ khu vực 2,3,4 Khu vực 7: Lưới điện Miền Trung trừ khu vực 4 Tình huống mất đường dây 500kV là nguyên nhân thường gặp nhất mà có thể gây sụt tần số nghiêm trọng cho hệ thống điện miền. Theo các tính toán của Trung tâm Điều độ HTĐ Quốc gia để đảm bảo yêu cầu về ổn định động lượng công suất truyền trên đường dây 500kV không được vượt quá 700MW. Để đảm bảo phục hồi tần số với tỷ lệ mất công suất như vậy thì lượng phụ tải sa thải phải ở mức 50-55%. Giới hạn phụ tải tối đa có thể sa thải áp dụng cho HTĐ Việt Nam là 55%.
Xác định mức cắt tải cho từng cấp tần số để tiết kiệm rơ-le tần số, độ lệch tần số giữa các cấp được chọn là 0.2Hz trong dải tần số từ 49. Với kết lưới và chế độ khai thác các nguồn điện hiện tại thì trong hầu hết các tình huống sự cố tỷ lệ mất công suất không vượt quá 20-30%. Do vậy để hạn chế việc cắt dư phụ tải trong các tình huống này, các cấp tần số từ 49.0Hz được chỉnh định lượng cắt tải là 5%. Các cấp tần số 47.6Hz được chỉnh định lượng cắt tải là 10% và 15%.
Lượng phụ tải sa thải ở các cấp hỗ trợ phục hồi tần số phải là 10% trở lên. Đối với HTĐ Việt Nam các cấp cắt tải này được chỉnh định mức tần số 49.0Hz và các mức trễ thời gian 10s, 15s, 20s, 25s. Lượng phụ tải sa thải ở mỗi mức thời gian là 2. Sử dụng tính năng cắt tải theo độ dốc.
Kết quả tính toán kiểm tra hoạt động của rơ-le tần số theo chế độ cắt tải, trong các tình huống sụt tần số thường xảy ra đối với hệ thống điện liên kết hay hệ thống điện miền đã cho thấy khả năng phục hồi tần số tránh rã lưới là hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên tại một số khu vực lưới 9 Luan van Chương 1 điện chỉ liên kết với hệ thống qua một đường dây truyền tải (chẳng hạn khu vực miền Tây Nam bộ). Sự cố mất đường dây này khi lưới điện khu vực đang nhận từ hệ thống một lượng công suất cao (trên 50% phụ tải khu vực) sẽ gây ra sụt tần số nghiêm trọng mà tác động của các cấp tần số nêu trên không đủ để phục hồi. Do vậy để tránh khả năng tách lưới giữ tự dùng của các tổ máy trong khu vực khi xảy ra tình huống sự cố như trên cần phải áp dụng cắt tải theo độ dốc tần số.
Thông thường các sự cố hay các sự nhiễu loạn của hệ thống điện là phần lớn do sự cố mất điện của máy phát điện, hoặc do tải thay đổi bất ngờ. Tại ngay khi xảy ra các sự cố của hệ thống điện thì lúc này hệ thống dễ dàng gây nên tình trạng mất ổn định trong hệ thống. Mức độ của sự mất ổn định thì tùy thuộc vào thời gian và mức độ của các sự nhiễu loạn. Tiêu chuẩn đánh giá ổn định chất lượng điện năng trong hệ thống là giá trị tần số và điện áp.
Nếu một trong hai thông số thay đổi sẽ dẫn đến sự mất cân bằng công suất trong hệ thống và gây nên sự nhiễu loạn. Tần số thì ảnh hưởng đến công suất tác dụng, điện áp thì ảnh hưởng đến công suất phản kháng. Khi có sự bất ổn về tần số hoặc điện áp sẽ gây ra nhiễu loạn và nếu kéo dài sự nhiễu loạn đó thì dẫn đến tan rã hệ thống. Sau các trường hợp nhiễu loạn thì việc nhanh chóng đưa các thông số về thông số ban đầu hoặc đưa hệ thống về điểm ổn định mới là điều hết sức quan trọng nhằm hạn chế tối đa việc sụp đổ hệ thống.
Vì vậy, việc sa thải phụ tải là một trong các phương pháp đươc lựa chọn. Tuy nhiên, số lượng tải cần ngắt và thời gian cắt cũng là được xem là yếu tố quan trọng để quyết định trong việc ổn định hệ thống. Chính vì thế nên việc lựa chọn phương pháp sa thải phụ tải tối ưu là vấn đề cần thiết và cấp bách. Có nhiều phương pháp khác nhau để sa thải phụ tải và phục hồi hệ thống đã được phát triển bởi các nhà nghiên cứu và đã được sử dụng trong ngành công nghiệp năng lượng trên toàn thế giới.
Hầu hết trong số này là dựa trên sự suy giảm tần số trong hệ thống. 10 Luan van Chương 1 Sa thải tải được dựa trên một chuẩn ưu tiên, có nghĩa là sa thải những phụ tải quan trọng là ít nhất, các tải công nghiệp đắt tiền vẫn còn được duy trì. Vì vậy, phương diện kinh tế đóng một phần quan trọng trong các kế hoạch sa thải tải. Thông thường, một phương pháp tiếp cận thông minh được sử dụng kết hợp.
Tổng số lượng của tải phải sa thải được chia thành nhiều bước riêng biệt, nó được sa thải theo sự suy giảm của tần số. Ví dụ, khi tần số giảm đến điểm nhận đầu tiên chắc chắn được xác định trước phần trăm của tổng phụ tải được sa thải. Nếu có một sự giảm tiếp trong tần số và nó đạt đến điểm nhận thứ hai, tỷ lệ phần của tải còn lại được sa thải. Quá trình này diễn ra tiếp tục cho đến khi tần số tăng trên giới hạn dưới của nó.
Số lượng tải bị sa thải trong mỗi bước là một yếu tố quan trọng về hiệu quả của chương trình.2 Sa thải phụ tải Sa thải phụ tải có thể được xác định như là lượng phụ tải phải cắt ra từ một hệ thống điện để giữ duy trì một phần còn lại của hệ thống hoạt động. Sa thải phụ tải là một hoạt động điều khiển khẩn cấp. Việc giảm phụ tải này là nhằm đáp ứng lại một sự nhiễu loạn của hệ thống. Các kết quả đó là do thiếu hụt khả năng phát điện hoặc là tình huống quá tải của lưới.
Các nhiễu loạn nói chung có thể gây nên các điều kiện này bao gồm: Sự cố máy biến áp hoặc là sự cố đường dây truyền tải, mất tổ máy phát, lỗi thiết bị đóng ngắt, đóng cắt lượng tải lớn đột ngột. Khi một hệ thống điện bị nhiễu loạn, đáp ứng quá độ và đáp ứng động học của nó được điều khiển chính thông qua 2 mạch vòng động học chính. Mạch thứ nhất là mạch kích từ (bao gồm AVR) sẽ điều khiển điện áp hệ thống và công suất phản kháng máy phát. Mạch thứ 2 là mạch động lực sơ cấp (bộ điều tốc), mạch sẽ điều khiển công suất tác dụng của máy phát và tần số hệ thống.1 Sa thải phụ tải truyền thống Sa thải phụ tải bằng relay tần số là phương pháp được sử dụng chung nhất cho việc điều khiển tần số của lưới điện và duy trì tính ổn định của lưới trong các điều kiện cần thiết.
Trong các phương pháp sa thải phụ tải thông thường, khi tần số giảm 11 Luan van Chương 1 xuống dưới điểm làm việc, các relay tần số của hệ thống phát tín hiệu cắt từng mức phụ tải, do đó ngăn cản sự giảm tần số và các ảnh hưởng của nó. Tần số là chỉ tiêu chính của tính an toàn và chất lượng hệ thống cho phép: Một sự biến động chung của lưới điện liên kết có cùng giá trị. Là sự biểu thị sự cân bằng giữa nguồn cung cấp và tải tiêu thụ. Yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự vận hành suôn sẽ của khách hàng, các ngành sản xuất đặc biệt và công nghiệp.1: Mô hình đáp ứng tần số ở trạng thái vận hành ổn định.
Một trong những vấn đề chính của lưới điện liên kết là rã lưới toàn bộ bởi vì sự giảm tần số như là kết quả của một vài sự cố nhà máy điện hoặc là hỏng đường truyền. Hiện nay, trong các hệ thống phát điện và truyền tải điện trên thế giới, cách phù hợp nhất để ngăn sự mất điện một phần hay là toàn bộ do sự sụt giảm tần số là sa thải phụ tải tự động và nhanh. Để nghiên cứu các tình huống mất cân bằng giữa năng lượng cung cấp và tiêu thụ, kết quả dao động tần số dưới các tình huống xấu và sự rối loạn lớn, một mô hình đơn giản của trạng thái ổn định là thành phần chính của đơn vị nhiệt được sử dụng, được trình bày ở Hình 1. Sự biểu diễn của mô hình trình bày ở phương trình sau: Pa t D 1 e 2H (1.1) D 12 Luan van Chương 1 Ở đây: H là hằng số quán tính của hệ thống; D là hệ số cản dịu phụ tải; Km là độ khuếch đại mạch điều khiển tần số; FH là một phần năng lượng của tuabin tái hâm lại áp suất cao; TR là hằng số thời gian; Pm là năng lượng cơ của tuabin (pu); Pa là năng lượng van điều tiết; Δω là sự thay đổi tốc độ (pu).
Phương trình (1.1) mô tả hệ thống ở các điều kiện ban đầu của sự nhiễu loạn lớn khi ảnh hưởng của bộ điều chỉnh tăng lên suốt các giây đầu tiên của nhiễu loạn dẫn đến đáp ứng của bộ điều khiển chậm trễ và hằng số thời gian vận hành của nó. Nó không thể có tác dụng trong việc ngăn ngừa sự suy giảm tần số. Theo phương trình (1.1), các thông số và yếu tố chính điều khiển trạng thái của tần số và sự quá tải là lượng quá tải và các thông số H và D. Ảnh hưởng của 2 thông số này sẽ được tính toán kỹ trong bất kỳ sự kết hợp sa thải phụ tải nào.
Hệ số cản dịu phụ tải (D) là một thông số thực biểu diễn mối quan hệ giữa tải và tần số. Nó không thể bị bỏ qua trong kế hoạch kết hợp sa thải phụ tải. Trong kế hoạch sa thải phụ tải, hệ số cản dịu phụ tải thường được diễn đạt qua đơn vị như được chỉ ra trong phương trình sau: F P D= (1.2) P F Giá trị của D biến thiên từ 0-7 và được xác định một lần cho mỗi hệ thống, được sử dụng trong tất cả các trường hợp của kế hoạch. Các nghiên cứu cuối cùng đã chỉ ra D = 3.3 cho trường hợp mạng lưới điện [3].