MỞ ĐẦU Thực vật trên thế giới vốn rất đa dạng và phong phú. Hiện nay ước tính có đến khoảng 285.650 loài thực vật đã được phát hiện. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, giúp sinh vật phát triển một cách thuận lợi, có khoảng 12. Theo nghiên cứu của Võ Văn Chi (2012), Việt Nam sở hữu khoảng 3.200 loài thực vật có giá trị làm thuốc.
Tuy nhiên, thông qua điều tra của Viện Dược liệu (2016), số lượng cây thuốc đã được ghi nhận hiện lên tới 5. Dù vậy, ở Việt Nam, các loài cây thuốc vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt là về các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chúng. Điều này dẫn đến việc thiếu cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm ứng dụng trong các lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm và nông nghiệp. Chi Sầm Memecylon là một trong những chi của họ Mua (Melastomtaceae) bao gồm khoảng 300 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới tại châu Đại Dương, châu Á, châu Phi, Madagascar, quanh Thái Bình Dương và châu Mỹ.
Có rất nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi này. Chi Sầm có thành phần chính là các nhóm chất thuộc nhóm flavonoid, acid béo, phenol, terpenoid, terpene, alkane, enzyme, benzen, acetate, ester, alcol, dẫn xuất carbohydrate và một số hợp chất khác [1].Trong đó, phenol và flavonoid được biết đến là các tác nhân chống lại bệnh tiều đường do có khả năng ức chế enzyme thuỷ phân carbohydrate như enzyme α-amylase và α-glucosidase. Cho tới ngày nay, đã có một số loài trong chi Sầm được nghiên cứu như M. tuy nhiên loài M.
octocostatum chưa có báo cáo nào về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của nó. Vì lý do này, việc nghiên cứu và điều tra thành phần hóa học cùng với việc đánh giá hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các chất đã được phân lập từ loài M. octocostatum sẽ mang lại giá trị khoa học và ứng dụng cao. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước mà còn góp phần 2 vào sự phát triển các ứng dụng thực tiễn.
Do đó, tôi đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase từ loài Sầm tám sóng (Memecylon octocostatum Merr. Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu được thành phần hóa học và hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của cao chiết và các hợp chất phân lập được từ loài Sầm tám sóng (Memecylon octocostatum Merr. Nội dung luận văn gồm có: 1. Thu hái và xử lý mẫu thân lá loài Memecylon octocostatum; 2.
Tạo các cao chiết và các phân đoạn đem đi tinh chế thu được các hợp chất sạch; 3. Phân lập các hợp chất sạch sử dụng các phương pháp sắc kí và sử dụng các phương pháp phổ để xác định cấu trúc của các chất đã phân lập được; 4. Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các cao chiết và chất sạch đã phân lập. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
TỔNG QUAN VỀ CHI MEMECYLON L. Giới thiệu chung về chi Memecylon L. Chi Sầm (Memecylon L.) hiện có hơn 300 loài, được tìm thấy ở các vùng khí hậu nhiệt đới ở châu Á, châu Đại Dương, châu Phi, quanh Thái Bình Dương và châu Mỹ. Ấn Độ hiện có hơn 30 loài, trong khi Trung Quốc có 11 loài.
Giáo sư Chen Cheih (1984) đã phân loại và mô tả ngắn gọn về hình thái, sinh thái, sự phân bố của 11 loài và 2 thứ. Tập thể nghiên cứu Jie Chen & S. Renner (2007) đã xác định và mô tả của 11 loài ở Trung Quốc. Nhà khoa học Guillaumin (1908 - 1923) thực hiện những nghiên cứu đầu tiên về chi Sầm ở Việt Nam, ông xây dựng khoá phân loại và mô tả vắn tắt các đặc điểm, phân bố và giá trị sử dụng, tên địa phương của 15 loài.
Đáng chú ý nhất trong các công trình của người Việt Nam phải kể đến Phạm Hoàng Hộ (2000) đã xây dựng khoá phân loại 15 loài, mô tả bổ sung các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, phân bố. Nguyễn Kim Đào (2003) đã xác định và mô tả 15 loài thuộc chi Sầm ở Việt Nam [2]. Chi Sầm (Memecylon L.) thường có đặc điểm hình thái chung là cây gỗ nhỏ, thân bám bụi và bóng, nhiều cành, không có vết sẹo hay vết nứt dọc. Thân cây có dạng tròn với 4 góc cạnh.
Có lá đơn mọc đối nhau, có thể có cuống hoặc không, và có thể có hình bầu dục, hình elip hoặc hình trứng. Thân cây có chất liệu da, dai hoặc nhiều thịt, thường không thẳng với gân chính và mép lá rõ rệt. Cụm hoa của chi Sầm thường mọc ở nách lá hoặc đỉnh, có cuống và có thể là kiểu sim đơn hoặc kép, đôi khi mọc thành chùm. Cuống hoa nằm gần đốt trên và có hai lá bắc nhỏ.
Nụ hoa được hình thành như hình nón. Có đài hoa dạng đấu, có màu, với 4 răng không rõ ràng. Cánh hoa có 4 cánh, thường rụng sớm và có màu. Nhị hoa được tạo thành từ 8 sợi, 2 ngăn nhỏ mở ra bằng rãnh hình thành bao phấn; trung đới có mũi nằm đối diện bao phấn, lớn hơn so với các ngăn bao phấn và không kéo dài.
Bầu hoa hạ gắn với đáy, có 1 ô, gồm 8 lá noãn 4 và phần noãn từ 7 đến 12; vòi nhuỵ hình dùi với các đốt ở đáy. Quả mọng, hình cầu hoặc bầu dục, đôi khi có vòng đài ở đỉnh; hạt bên trong [1]. Giới thiệu chung về Sầm tám sóng (Memecylon octocostatum) Ở Việt Nam, chi Sầm có khoảng 15 loài [3]. Loài Memecylon octocostatum hay còn gọi là Sầm tám sóng, được 2 nhà thực vật học Merr.
& Chun mô tả lần đầu tiên năm 1935. octocostatum thuộc loại cây có thân gỗ nhỏ, thân cao khoảng 7-8 m, đường kính 20-30 cm. Cành có mặt cắt ngang hình tròn; nhẵn, không lông. Lá mọc đối nhau; phiến lá hình bầu dục, có kích thước 3-5x2-2,5 cm; đỉnh nhọn; gốc lá tù; mặt trên màu nâu sẫm, mặt dưới màu nâu đỏ; mép nguyên; 2 mặt nhẵn; gân chính rõ, gân bên không rõ; cuống dài 2-5 mm.
Cụm hoa mọc dạng xim một ngả hay hai ngả, dài 6-8 mm, nằm ở vị trí nách lá; cuống cụm hoa dài 2-4 mm; có lá bắc, hình dùi, dài 1 mm; cuống hoa dài 1-2 mm, nhẵn; đế hoa hình chén, dài 2-2,8 mm; 4 cạnh. Hoa có 4 lá đài dính nhau ở dưới; có thùy tam giác dài khoảng 0,8 mm. Cánh hoa có 4 cánh; hình trứng; kích thước 3 x 1,5 mm; mép có răng không đều; đỉnh nhọn; màu xanh lam. Nhị 8; chỉ nhị dài 2,5-3 mm; bao phấn hình trứng, nhỏ, mở bằng nắp ở đầu, dài 1,2 mm.
Quả mọng; hình cầu; dài 6-8 mm, có 8 cạnh; đài tồn tại tạo thành vòng thắt hình vương miện trên đỉnh quả. Hạt 1; đường kính 1-1,5 mm; bề mặt nhẵn [2]. Ở nước ta, cây phân bố ở Ninh Thuận (Cà Ná), Lâm Đồng, Đồng Nai, Quảng Trị. Chúng mọc rải rác trong rừng hoặc ven những khu rừng thưa.
Cây ưa ánh sáng và phát triển mạnh ở độ cao 700-800 m. octocostatum được sử dụng làm thuốc trị các vấn đề về da cụ thể như mụn, lở loét. Nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Các nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về chi Memecylon tại Việt Nam phải kể tới nghiên cứu tiêu biểu của Phạm Hoàng Hộ (2000).
Ông đã khoá định loại và mô tả ngắn gọn các đặc điểm và sự phân bố của 15 loài: M. Năm 2003, Nguyễn Kim Đào cùng các cộng sự cũng đã thống kê, mô tả 15 loài và 3 thứ với nghiên cứu “Danh mục các loài thực vật ở Việt Nam” [4] về cơ bản cũng có sự tương đồng về các loài với nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ. Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004) đã mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, nghiên cứu thành phần hoá học của loài M. edule trong công trình “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” [5].
Năm 2020, trong công bố “Nghiên cứu phân loại chi Sầm – Memecylon L. ở Việt Nam” Nguyễn Thị Bích Hường và các cộng sự đã mô tả đặc điểm hình thái của chi, xây dựng khoá định loại 14 loài và 4 thứ thuộc chi Memecylon ở Việt Nam dựa trên đặc điểm hình thái [2]. Nguyễn Tuấn Phương (2023) đã tách chiết, xác định được cấu trúc và đánh giá hoạt tính kháng viêm của 6 hợp chất tách được từ cây Sầm núi (Memecylon scutellatum (Lour. Có thể thấy các nghiên cứu trong nước chủ yếu là các công trình mang tính chất thống kê, còn khá ít các nghiên cứu đi sâu vào việc phân lập chất, xác định cấu trúc và đem đi đánh giá hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Sầm.
Các nghiên cứu trên thế giới Nhà khoa học Chen Cheih (1984) đã xây dựng khoá định loại và mô tả vắn tắt về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố của 11 loài và 2 thứ [6]. Elavazhagan và các cộng sự đã phân tích thành phần hoá học có trong dịch chiết chloroform và ethyl acetate của hạt loài M. edule được thu hái tại Ấn Độ. Kết quả cho thấy sự hiện diện của các hợp chất alkaloid, triterpene, flavonoid và saponin [7].
Dịch chiết methanol của M. edule chứa squalene, palmitic acid, và acid béo từ phân tích GC-MS và các nhóm chức năng được 6 xác định bằng phổ FT-IR [8]. Khi phân tích GC-MS của chiết xuất ethyl acetate loài M. edule cho thấy 26 hợp chất và stearic acid là thành phần chiếm ưu thế (20,19%) [9].
Somsak Nualkaew và cộng sự đã phân lập được 9 hợp chất phenol từ lá loài M. edule trong đó có một chất mới là 2-butanone 4-glucopyranoside 6′-O-gallate và một hợp chất có hoạt tính chống oxi hoá cao đã được ứng dụng trong thực tiễn là epigallocatechin-3-O-gallate (EGCG) [10]. Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng chỉ ra rằng EGCG có hoạt tính ức chế enzyme α- glucosidase cao. Leilei Xu và cộng sự đã chứng minh hoạt tính ức chế α- glucosidase của EGCG (IC50 = 19,5 ± 0,3 μM) cao hơn acarbose (IC50 = 278,7 ± 1,1 μM), EGCG ức chế α-glucosidase theo cách thuận nghịch và không cạnh tranh [11].
Trong các nghiên cứu về loài M. umbellatum cho thấy sự có mặt của phytosterol, terpenoid, glycosid, tannin và flavonoid, cacbohydrate và các hợp chất phenolic [12-14]. Thành phần hóa học phần trên mặt đất của M. umbelletum bao gồm β- amyrin, sitosterol, oleanic acid, ursolic acid, sitosterol- β-D glucoside umbe lactone [15].
Joshi và cộng sự [16] làm sáng tỏ cấu trúc của các acid béo như octocosonoic acid, cerotic acid, ethyl palmitate, palmitic acid và butyric acid dựa trên dữ liệu phổ từ dịch chiết n-hexane của rễ loài thực vật này.