Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN TÀI LIỆU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC DIỆN NỘP LƢU VÀO KHO LƢU TRỮ TRUNG ƢƠNG ĐẢNG 1. Tổng quan về doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn hiện nay Tại Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 định nghĩa doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, doanh nghiệp là khái niệm chung, bao quát cho tất cả các tổ chức kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời hoặc cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước hoặc theo nhu cầu của xã hội. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ cho khách hàng nhằm mục đích sinh lời, thu được lợi nhuận.
Trên cơ sở khái niệm doanh nghiệp chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của doanh nghiệp: Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở sự liên kết giữa các thành viên trong tổ chức. Sự liên kết đó được biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản: Điều lệ, nội quy, quy chế, thoả thuận. để thực hiện các mục tiêu nhất định nhất là mục đích kinh doanh để có lợi nhuận. Thứ hai, doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch ổn định Thứ ba, doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Trên cơ sở những đặc điểm của doanh nghiệp, chúng ta có rất nhiều cách phân loại doanh nghiệp.
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, được phân loại theo một số tiêu chí như: Phân loại theo tính chịu trách nhiệm; Phân loại theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp; Phân loại theo quy mô vốn điều lệ; 13 z Phân loại theo hình thức tổ chức doanh nghiệp. Nếu phân loại theo hình thức tổ chức doanh nghiệp thì có các doanh nghiệp với các tên gọi: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân và các tập đoàn kinh tế. Đối với loại hình công ty TNHH, hiện nay được chia thành 2 loại là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Tại điều 63 Luật Doanh nghiệp quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên như sau: 1.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần”. Theo quy định của nhà nước, thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc một tổ chức.
Thành viên duy nhất này là chủ sở hữu công ty. Nếu như trước đây công ty TNHH một thành viên là một tổ chức thì bây giờ pháp luật nước ta lại thừa nhận chủ sở hữu công ty là một cá nhân. Chính sự thừa nhận này tạo ra ưu thế riêng cho công ty TNHH một thành viên so với loại hình doanh nghiệp tư nhân. Như thế là phù hợp với quan điểm của một số nước phát triển trên thế giới như Bộ luật dân sự Pháp quy định “Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi và ý chí của chỉ một người”.
Luật Đức quy định “Công ty TNHH do một hoặc nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của luật và theo đó có mục đích hoạt động được pháp luật cho phép”. Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân. Cá nhân hay tổ chức thành lập công ty TNHH một thành viên đều được coi là có tư cách pháp nhân tức là đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định đó là được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó nhân danh mình và các quan hệ pháp luật một cách độc lập. 14 z Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu để công khai huy động vốn và quyển sở hữu bị hạn chế. Cơ cấu của các công ty TNHH tùy thuộc vào điều lệ của công ty quy định. Tuy nhiên về cơ bản cơ cấu của công ty TNHH thường bao gồm: Hội đồng Quản trị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Ban Kiểm soát và phía dưới là các phòng ban chuyên môn giúp việc. Như vậy, điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Tuy nhiên, loại hình công ty này cũng có hạn chế là các cá nhân không được phép thành lập loại hình công ty này, chỉ có một số chủ thể có tư cách pháp nhân như các tổ chức chính trị xã hội, công ty cổ phần, công ty nhà nước… mới được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Ở trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nhắc đến các công ty TNHH một thành viên được thành lập và chịu sự quản lý của VPTW Đảng, bao gồm: Công ty TNHH một thành viên In Tiến Bộ, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên An Phú, Công ty TNHH Hồ Tây một thành viên. Cơ sở lý luận để xây dựng bảng danh mục thành phần tài liệu các doanh nghiệp thuộc diện nộp lƣu vào kho lƣu trữ TW Đảng Xác định thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu vào Kho lưu trữ TW Đảng là xác định những nhóm tài liệu của Đảng có ý nghĩa chính trị, lịch sử, khoa học thuộc diện phải chuyển giao vào kho lưu trữ TW Đảng để bảo quản vĩnh viễn và lâu dài, nhằm lưu giữ tốt nhất những di sản văn hoá của Đảng, phục vụ lợi ích chung của toàn Đảng, toàn dân [19,tr.
Danh mục thành phần tài liệu là bản mục lục kê các nhóm tài liệu của cơ quan tổ chức Đảng (ở đây bao gồm của 3 cơ quan doanh nghiệp của VPTW Đảng) hình thành 15 z trong quá trình hoạt động. Nó giúp cho công tác xác định giá trị tài liệu, bổ sung và quản lý những tài liệu có giá trị được dự kiến bảo quản vĩnh viễn và lâu dài trong kho Lưu trữ Đảng được dễ dàng, thuận tiện và có hiệu quả. Danh mục thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu là một công cụ trong hệ thống công cụ xác định giá trị tài liệu. Danh mục này được xây dựng trong quá trình và trên cơ sở kinh nghiệm làm việc với tài liệu trong lĩnh vực xác định giá trị trên cơ sở vận dụng những nguyên tắc và tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu vào thực tế, có nghĩa nó liên quan chặt chẽ với sự phát triển của lý luận và thực tiễn công tác xác định giá trị.
Nguyên tắc xác định giá trị tài liệu Xác định nguồn và thành phần tài liệu trong lưu trữ nói chung phải tuân thủ những nguyên tắc của lưu trữ học Mác xít, bao gồm nguyên tắc chính trị, nguyên tắc tắc lịch sử, nguyên tắc toàn diện tổng hợp, những nguyên tắc này là phương hướng nhận thức khoa học trong quá trình nghiên cứu giải quyết vấn đề xác định các cơ quan thuộc nguồn nộp lưu vào một lưu trữ nhất định và thành phần tài liệu của các cơ quan thuộc nguồn nộp lưu phải đưa vào lưu trữ. Tuy nhiên, những nguyên tắc này mới chỉ đưa ra những phương hướng nhận thức khoa học còn việc xác định cụ thể như thế nào phải căn cứ vào những phương pháp, tiêu chuẩn cụ thể và không giống nhau giữa hai đối tượng “lựa chọn nguồn” và “lựa chọn thành phần tài liệu”. Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn phụ thuộc một phần vào đặc điểm nội dung, thành phần tài liệu của các cơ quan, đơn vị lập danh mục, ở đây chúng ta xét đến khối tài liệu của các doanh nghiệp trực thuộc văn phòng Trung ương Đảng. Có thể hình dung một cách đơn giản, lý luận của lưu trữ học đã chỉ ra con đường nhưng để đi hết con đường ấy cần có những biện pháp cụ thể, được ví như cách thức mà chúng ta sẽ đi từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của con đường.
Bằng cách ứng dụng linh hoạt, sáng tạo các nguyên tắc của lưu trữ học mác xít sẽ cho chúng ta hiểu sâu sắc bản chất của các loại tài liệu, các thuộc tính của chúng, mối quan hệ qua lại giữa chúng với đời sống hiện thực, các yêu cầu về mặt kinh tế, xã hội, lịch sử… Những hiểu biết đó là tiền đề quan trọng giúp các cán bộ lưu trữ quyết định lựa chọn các hồ sơ nộp lưu vào kho Lưu trữ văn phòng TW Đảng, phục vụ nhu cầu trước mắt và lâu dài. Với cách suy luận như vậy, chúng tôi nhận thấy, các nguyên tắc chính trị, nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc toàn diện tổng hợp có thể vận dụng như sau : 16 z - Nguyên tắc chính trị : Nguyên tắc chính trị được hiểu là một thể chế chính trị do một đảng nào đó cầm quyền thì giá trị tài liệu được xác định trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho những đối tượng mà đảng đó phụng sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân dân lao động đại diện cho quyền lợi của toàn dân tộc.