đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thực hiện, phạm vị của luận văn cũng được trình bày. - Chương 2 trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài gồm có một số mô hình phân tích và kết quả đạt được của các tác giả khác. - Cơ sở lý thuyết của Luận văn gồm có các nội dung về tương tác nền móng cọc, nêu ra các công thức tính toán hệ số nền và độ cứng k, chương trình sử dụng phần tử hữu hạn SAP 2000 phiên bản 19.0 cũng được đề cập trong chương 3. - Chương 4 trình bày kết quả số của Luận văn bao gồm kiểm chứng các thông số của bài báo về tần số, chuyển vị, khảo sát các thông số nghiên cứu ảnh hưởng của 7 sự tương tác đến ứng xử động lực học và các kết quả số khác cũng được nêu trong chương này.
- Cuối cùng, phần kết luận và hướng phát triển được nêu trong chương 5 của Luận văn. Các tài liệu tham khảo được trình bày ở cuối Luận văn. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU Chương này trình bày một số khái niệm về tương tác kết cấu với nền trong phân tích kết cấu nhà nhiều tầng và tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của Luận văn này. Mục tiếp theo mô tả về sự tương tác và các ảnh hưởng của nó thông qua các tài liệu tham khảo, đặc biệt nhấn mạnh đến sự tương tác giữa mô hình móng cọc với nền được sử dụng tương đối trong nhà nhiều tầng.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài qua các tài liệu tham khảo cũng được trình bày trong phần tiếp theo. Cuối chương là những nhận định về hướng nghiên cứu của đề tài so với các tài liệu tham khảo này.2 MÓNG CỌC – BÈ 2.1 Tổng quan móng bè – cọc Móng bè – cọc là một loại móng cọc, cho phép phát huy được tối đa khả năng chịu lực của cọc và tận dụng được một phần sức chịu tải của nền đất dưới đáy bè. Móng bè - cọc còn được gọi là móng bè trên nền cọc. Móng bè cọc có rất nhiều ưu điểm so với các loại móng khác, như tận dụng được sự làm việc của đất nền, phát huy tối đa sức chịu tải cọc, chịu được tải trọng lớn, độ cứng lớn, không gian tự do thông thoáng thuận lợi cho việc bố trí tầng hầm, liên kết giữa bè và kết cấu chịu lực bên trên như vách, cột có độ cứng lớn phù hợp sơ đồ làm việc của công trình.
Móng bè cọc cấu tạo gồm hai phần: bè và các cọc. Bè hay đài cọc có nhiệm vụ liên kết và phân phối tải trọng từ chân kết cấu cho các cọc, đồng thời truyền một phần tải trọng xuống đất nền tại vị trí tiếp xúc giữa đáy 9 bè và đất nền. Bè có thể làm dạng bản phẳng hoặc bản dầm nhằm tăng độ cứng chống uốn. Các cọc làm nhiệm vụ truyền tải trọng xuống nền đất dưới chân cọc thông qua sức kháng mũi và vào nền đất xung quanh cọc thông qua sức kháng bên.
Có thể bố trí cọc trong đài thành nhóm hay riêng rẽ, bố trí theo các trục cột hoặc vách hay bố trí bất kỳ tuỳ thuộc vào mục đích của người thiết kế, nhằm điều chỉnh lún không đều, giảm áp lực lên nền ở đáy bè hay giảm nội lực trong bè. Cách bố trí cọc trong đài thường theo nguyên tắc trọng tâm nhóm cọc trùng hoặc gần với trọng tâm tải trọng công trình. Giải pháp này có ưu điểm là tải trọng xuống cọc được phân bố hợp lí hơn, tính làm việc tổng thể của nhóm cọc tốt hơn. 1: Cấu tạo móng bè cọc Cọc có thể sử dụng cọc chế sẵn hoặc cọc nhồi.
Cọc chế sẵn thường gồm hai loại: Cọc bê tông cốt thép (BTCT) đúc sẵn, có hoặc không có ứng suất trước. Cọc thường có dạng hình vuông. Dạng cọc này thường áp dụng cho các công trình có tải trọng vừa và nhỏ vì chiều dài cọc hạn chế, khoảng 30m. Còn cọc ứng suất trước có ưu điểm là sức chịu tải lớn, có thể xuyên qua các lớp đất rời có độ chặt lớn, tuy nhiên loại cọc này đã khá phổ biến ở nước ta.
Ngoài ra còn có cọc thép (thép hình chữ H, hoặc thép ống tròn). Đặc điểm của cọc thép là bề dày tấm thép mỏng, nên để cọc có thể dễ dàng xuyên qua các lớp đất cứng, người ta thường gia cố thêm mũi cọc. Ở Việt Nam, ta thường hạ cọc chế sẵn xuống bằng một trong ba phương pháp: 10 Dùng búa đóng cọc: thường gây chấn động và tiếng ồn lớn. Hơn nữa, khó có thể đóng cọc qua lớp đất tốt vì cọc thường bị gãy, vỡ đầu cọc.
Để giảm chấn và giúp quá trình đóng cọc, ta có thể khoan mồi trước khi đóng. Ép cọc bằng kích thuỷ lực và hệ đối trọng. Để có thể ép cọc xuống độ sâu thiết kế, tải trọng ép ở đầu cọc phải vượt qua hoặc bằng tải trọng cực hạn Pu của đất nền. Rung: thường dùng cho tường cừ, tường ngăn.
Cọc khoan nhồi là một loại cọc bê tông được thi công bằng cách đổ bê tông tươi vào một hố khoan trước. So với các loại cọc khác, cọc nhồi có lịch sử tương đối mới. Năm 1908 đến 1920, các lỗ khoan có đường kính nhỏ 0,3 m, và có chiều dài khoảng từ 6m đến 12m. Hiện nay, người ta đã có thể làm cọc nhồi mở rộng chân, sử dụng dung dịch bentonite để giữ thành hố khoan.
Cọc nhồi được sử dụng ở Việt Nam đầu những năm 1990. Kích thước phổ biến của cọc nhồi ở Việt Nam: thường có đường kính từ 0.2m và chiều dài từ 40m đến 70m. Cọc nhồi thường áp dụng cho các công trình có tải trọng lớn, những công trình xây chen không thể thi công chấn động như các loại cọc khác.2 Ứng dụng móng bè cọc Móng bè cọc thường được sử dụng tương đối nhiều trong các công trình xây dựng. Sở dĩ phải làm móng bè cọc vì trường hợp đất yếu rất dày, bố trí cọc theo đài đơn hay băng trên cọc không đủ khả năng chịu lực.
Cần phải bố trí cọc trên toàn bộ diện tích xây dựng mới mang đủ tải trọng của công trình. Hơn nữa bè cọc sẽ làm tăng tính cứng tổng thể của nền móng bù đắp lại sự yếu kém của nền đất. Nhà dân dụng: Chủ yếu là móng bè trên cọc nhồi hoặc barrette. Móng bè cọc thích hợp với kết cấu ống, kết cấu khung vách.
2: Mặt bằng kết cấu móng tòa nhà 115 Định Công, Q. Hoàng Mai, Hà Nội Một ví dụ về công trình kết cấu móng bè – cọc tòa nhà 115 Định Công, Q. Hoàng Mai, Hà Nội, có kích thước mặt bằng 91,7 x 44,85 m; kết cấu khung - vách; sử dụng cọc khoan nhồi đường kính 1200 mm. Sức chịu tải tính toán cọc đơn là 650 Tấn; phần móng gồm 144 cọc được bố trí khắp nhà.
Bè móng dày 1,9 m. Nhà công nghiệp: chủ yếu là móng bè trên cọc đóng hoặc ép. Đặc điểm nhà công nghiệp là diện tích mặt bằng lớn, cấu tạo địa chất thường không ổn định; cọc sử dụng trong công trình này thường có tác dụng gia cố nền, giảm độ lún lệch và lún tuyệt đối. Công trình cảng, thuỷ: chủ yếu là móng bè trên cọc đóng hoặc ép.
Đặc điểm của các công trình này là chịu tải trọng nặng, quy định nghiêm ngặt về độ lún tuyệt đối và lún lệch. Ví dụ về công trình dạng này là các âu tàu.3 Cơ chế làm việc của móng bè cọc Đặc điểm nổi bật của móng bè - cọc là sự ảnh hưởng tương hỗ giữa đất và kết cấu móng trong quá trình chịu tải theo bốn ảnh hưởng sau: - Sự tương tác giữa cọc và đất; - Sự tương tác giữa cọc và cọc; - Sự tương tác giữa đất và móng bè; - Sự tương tác giữa cọc và móng bè. 3: Mô hình sự tương tác của móng bè - cọc (Poulos, 2000) Nghiên cứu tác động qua lại khi kể tới ảnh hưởng của đài cọc, nền đất dưới đáy đài và cọc cho thấy cơ cấu truyền tải trọng như sau: Sự làm việc của đài cọc: Tải trọng từ công trình truyền xuống móng. Đài cọc liên kết các đầu cọc thành một khối và phân phối tải trọng tập trung tại các vị trí chân cột, tường cho các cọc.
Sự phân phối này phụ thuộc vào việc bố trí các cọc và độ cứng kháng uốn của đài. Ở một mức độ nhất định nó có khả năng điều chỉnh độ lún không đều (lún lệch). Ảnh hưởng của nền đất dưới đáy đài: Khi đài cọc chịu tác động của tải trọng một phần được truyền xuống cho các cọc chịu và một phần được phân phối cho nền đất dưới đáy đài. Tỷ lệ phân phối này còn phụ thuộc vào các yếu tố: độ cứng của nền đất, chuyển vị của đài, chuyển vị của cọc và việc bố trí các cọc.
Ảnh hưởng của cọc: Cơ chế làm việc của cọc là nhờ được hạ vào các lớp đất tốt phía dưới nên khi chịu tác động của tải trọng đứng từ đài móng nó sẽ truyền tải này xuống lớp đất tốt thông qua lực ma sát giữa cọc với đất và lực kháng ở mũi 13 cọc làm cọc chịu kéo hoặc nén. Trong quá trình làm việc cọc còn chịu thêm các tác động phức tạp khác như: hiệu ứng nhóm cọc, lực ma sát âm. Do có độ cứng lớn nên cọc tiếp nhận phần lớn tải trọng từ đài xuống, chỉ có một phần nhỏ do nền tiếp nhận.4 Sự làm việc của nhóm cọc Sự làm việc của cọc đơn khác với sự làm việc của nhóm cọc. Khi khoảng cách các cọc khá lớn (ví dụ lớn hơn 6D) thì cọc làm việc như cọc đơn.
Xét cọc và nhóm cọc trên Hình 2. 4, các đường cong trên Hình 2. 4a thể hiện đường đẳng ứng suất do cọc đơn gây ra, còn ở Hình 2. 4b, ta thấy ứng suất ở giữa nhóm cọc sẽ do tải trọng truyền từ nhiều cọc tới, do đó ứng suất dưới nhóm cọc lớn hẳn lên.
Nếu mỗi cọc trong nhóm và cọc đơn cùng chịu một tải trọng làm việc thì độ lún của nhóm cọc lớn hơn cọc đơn. 4: Các đường đẳng ứng suất của cọc đơn (a) và nhóm cọc (b) Sức chịu tải của nhóm cọc: Punh nPud (2.1) trong đó: : hệ số nhóm N : số lượng cọc trong nhóm Punh : sức chịu tải của nhóm cọc 14 Pud : sức chịu tải của một cọc đơn.