CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU .1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .1 Tình hình nghiên cứu trong nước.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước .2 SỰ CẦN THIẾT TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU .3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI. 11 CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM .1 ĐẤT BÙN SÉT NẠO VÉT TỪ LÒNG SÔNG.2 VẢI ĐỊA KỸ THUẬT. 12 CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM .1 TIÊU CHUẨN ÁP DỤNG: .2 LÝ THUYẾT NÉN CỐ KẾT: .1 Phương trình vi phân cố kết 1 chiều: .2 Các giai đoạn nén cố kết .3 Phương pháp tính toán hệ số cố kết .3 DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM: .4 CHƯƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM: .1 Kích thước mẫu thí nghiệm .2 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm.
27 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .1 MẪU THÍ NGHIỆM. 31 Số lượng mẫu thí nghiệm và dữ liệu ban đầu được trình bày trong bảng 4.2 XỬ LÍ SỐ LIỆU: .1 Xử lý số liệu cho mẫu 1cm: .2 Tổng hợp kết quả mẫu không gia cường: .3 Kết quả mẫu gia cường 1 lớp: .3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM .1 Hệ số rỗng của đất: .2 Hệ số cố kết và thời gian cố kết của đất: .3 Hệ số thấm của đất:. 40 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ. 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO NƯỚC NGOÀI.
43 TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG NƯỚC. TỔNG QUAN VÀ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Lê Bá Vinh và cộng sự (2003) nghiên cứu giải pháp xử lý nền và tính tốn ổn định của công trình đường cấp III trên nền có lớp đất yếu mỏng. Nghiên cứu tập trung các biện pháp xử lý nền đất yếu bằng đệm cát kết hợp vải địa kỹ thuật và cừ tràm. Nghiên cứu đề xuất phương pháp xác định hệ số an toàn chống trượt đối với nền tự nhiên và xét ảnh hưởng của vải địa kỹ thuật gia cố tăng ổn định của nền đất yếu dưới nền đường.
Lê Xuân Roanh (2014) đề xuất công nghệ xử lý nền và thi công đê, đập chắn sóng trên nền đất yếu. Nghiên cứu phân tích một số công nghệ xử lý nền đất sét yếu bao gồm (1) xử lý nền đê bằng đệm cát đóng vai trò lớp chịu lực và lớp thoát nước cho nền đê, (2) xử lý nền bằng bấc thấm làm tăng khả năng thoát nước trong nền qua hệ thống thoát nước đứng, (3) xử lý nền bằng giếng cát vừa đóng vai trò là biên thấm đứng, vừa đóng vai trò chịu tải trọng, tăng cường sức chịu tải cho nền, (4) ứng dụng vải địa kỹ thuật gia cố nền phân cách nền đê và thân đê, phân bố đều áp lực đất đắp, tăng độ bền chống trượt của khối đất đắp, giảm mặt cắt ngang đê, (5) xử lý nền bằng bè cây, (6) xử lý nền bằng cọc đệm cát và (7) gia cố bằng cọc xi măng đất. Nghiên cứu cho thấy phương pháp sử dụng vật liệu như cát hoặc cọc vật liệu rời giúp rút ngắn khoảng cách thoát nước bằng cách bố trí các hành lang thoát nước theo phương thẳng đứng và phương ngang, đồng thời trên bề mặt đất nền lại phủ lớp cát thoát nước và lớp gia tải nhằm đẩy nhanh cố kết. Nguyễn Chí Thuận (2017) có đề tài nghiên cứu gồm 2 phần: (1) Nghiên cứu về khả năng cố kết của đất sét bùn yếu khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long khi gia cường vải địa kỹ thuật kết hợp lớp xỉ lò dưới điều kiện nén một trục; (2) Phân tích khả năng chống cắt của đất yếu khi gia cường vải địa kỹ thuật và đất yếu khi gia cường đệm cát 3 kết hợp vải địa kỹ thuật.
Kết quả thí nghiệm cho thấy thời gian cố kết T50 và T90 giảm dần từ thí nghiệm nén đất, đến đất kết hợp vải và thấp nhất là nén đất kết hợp vải + xỉ. Ở cùng cấp tải 50 kPa mẫu gia cường vải địa kỹ thuật giúp giảm thời thời gian cố kết T50 lên đến 79% và T90 là 72%, cũng ở cùng cấp tải 50 kPa xỉ lò kết hợp vải địa kỹ thuật giúp đẩy nhanh thời gian cố kết T50 lên đến 89% và T90 là 88% so với đất không gia cường; hệ số thấm k và tính nén lún (hệ số rỗng theo cấp tải trọng) của bản thân đất chỉ phụ thuộc vào bản chất của đất và tải trọng, không phụ thuộc vào cách bố trí vải địa kỹ thuật và xỉ lò. Nguyễn Tấn Phước (2018) nghiên cứu về cường độ đất bùn được nạo vét từ lòng sông kết hợp vải địa kỹ thuật và đệm cát. Quá trình nghiên cứu cường độ bùn đất được thực hiện trong điều kiện nén một trục CBR.
Bùn đất được nạo vét từ lòng sông là đất sét bão hòa có độ xốp cao và khả năng chống cắt thấp. Bùn đất được yêu cầu cải tiến hơn nữa trước khi áp dụng san lấp công trình. Luận văn trình bày kết quả của loạt bài kiểm tra so sánh giá trị CBR trên bùn đất nạo vét lòng sông được gia cố bằng vải địa kỹ thuật không dệt và đệm cát. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện thời tiết khô, đất bùn không thấm nước và thực hiện với độ ẩm tối ưu thì cường độ đất bùn rất lớn; việc gia cường vải địa không gia tăng cường độ đất nền trong điều kiện không ngấm nước.
Nhưng trường hợp ngậm nước, đất bùn trở nên rất yếu vì đặc tính khả năng chịu lực kém. Khi đó, việc gia cường thêm vải địa hoặc đệm cát thì cường độ lại được cải thiện đáng kể. Kết quả cho thấy vải địa kỹ thuật không dệt và đệm cát có ý nghĩa cải thiện giá trị CBR đối với bùn đất đặc biệt là các mẫu bão hòa. Độ dày tối ưu của đệm cát là 1.5cm cho hiệu suất cao nhất của các trường hợp gia cường cải thiện bùn đất nạo vét lòng sông dưới điều kiện ngâm và không ngâm.
Trần Văn Hiển (2015) đã nghiên cứu thực nghiêm tương quan giữa độ chặt (hệ số đầm nén Kc) với các chỉ tiêu cơ lý là hệ số thấm Kt, lực dính C, góc ma sát trong để làm cơ sở đề suất những giải pháp phù hợp khi thiết kế và thi công đập đất độ ẩm cao.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, với sự phát triển kinh tế nhanh chóng và dân số ngày càng tăng ở các khu vực ven biển, xây dựng các công trình lấn biển được coi là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng thiếu đất của các thành phố, các khu dân cư và các khu công nghiệp. Nhiều công trình lấn biển đã sử dụng phương pháp bơm bùn lòng sông làm đất đắp (Shang và cộng sự, 1998; Shen và cộng sự, 2006; Liu and Liu, 2008; Wang và cộng sự, 2014). Nhưng nhiều nền móng công trình thường phải chịu biến dạng và có độ lún rất lớn (Huerta and Rodriguez, 1992; Liu and Zhou, 2005) do đặc điểm của loại bùn này là có hàm lượng nước cao, có hệ số rỗng lớn, khả năng biến dạng lớn và chịu lực kém. Nghiên cứu về hệ số thấm và phương pháp tính lún cho lớp đất bùn yếu (Zhang và cộng sự, 2015) cho thấy hệ số rỗng và hàm lượng đất sét ảnh hưởng lớn đến hệ số thấm của loại đất này.
Kết quả cho thấy hệ số rỗng của bùn giảm dần theo thời gian. Đất đắp bằng bùn nạo vét cần thời gian vài năm để có thể ổn định và cần có những xử lý, gia cường nhằm đẩy nhanh quá trình cố kết trong đất bùn loại này. Nhiều phương pháp gia cường đã được áp dụng trên đất bùn như: sử dụng vải địa kỹ thuật, đệm cát, túi địa kỹ thuật Geocell, cọc vật liệu rời (đá-sỏi), … đem đến nhiều hiệu quả về mặt cải thiện cường độ cho đất bùn yếu. Palmeira và cộng sự (1998) phân tích ngược trường hợp đê trên nền đất yếu được gia cường bằng vải địa kỹ thuật đã cho thấy vải địa kỹ thuật là một giải pháp hiệu quả.
Jewel (1996) đề xuất sử dụng phương pháp giải tích để tính toán hệ số an toàn của nền đê được gia cường bằng vải địa kỹ thuật, nghiên cứu cho thấy đối với hệ số an toàn đối với đê gia cố vải địa kỹ thuật tối thiểu, Fs > 1.2 trong thiết kế thông thường. Sitharam và cộng sự, 2013 trình bày quá trình xây dựng kè cao 3m trên nền đất bùn đỏ - sản phẩm thải ra từ quá trình sản xuất của ngành công nghiệp nhôm và đề xuất mô hình phân tích khả năng chịu tải của lớp đất yếu gia cố bằng Geocell và sự kết hợp Geocell với vải địa kỹ thuât. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và phân tích cho thấy 5 việc sử dụng kết hợp Geocell và vải địa kỹ thuật luôn có lợi hơn so với việc chỉ sử dụng Geocell. Nhiều nghiên cứu kết hợp vải địa kỹ thuật và đệm cát cũng đã cho thấy hiệu quả làm tăng khả năng chịu lực của loại kết cấu liên hợp này trên đất yếu.
Kết quả nghiên cứu của Zhou và cộng sự (2008) cho thấy kết hợp vải địa kỹ thuật và đệm cát giúp tăng hệ số nền K30 lên 30 lần và độ lún giảm 44% và làm giảm ứng suất tại bề mặt lớp đất yếu so với đất yếu khi không được gia cố. Yu và cộng sự (2005) áp dụng các biện pháp khác nhau bao gồm thí nghiệm vật liệu, thử nghiệm mô hình ly tâm và phân tích số (FEM) để nghiên cứu cơ chế hoạt động của lớp gia cường (đệm cát và vải địa kỹ thuật) dưới đê chắn sóng trên nền đất yếu. Kết quả cho thấy lớp gia cường hạn chế sự dịch chuyển ngang và tăng tính ổn định cho đê. Đất nền càng yếu càng gây ra dịch chuyển ngang lớn và càng làm tăng hiệu quả của vải địa kỹ thuật, đặc biệt khi lớp đệm cát nằm dưới hoặc kẹp giữa lớp đất yếu.
Nghiên cứu thể hiện vải địa kỹ thuật có mô đun đàn hồi và độ rộng càng lớn càng đem lại hiệu quả cao trong ổn định nền đê. Geocell và đệm cát còn được kết hợp với cọc đá để gia cố nền đất yếu như được trình bày trong nghiên cứu của Dash và cộng sự (2013). Nghiên cứu đã cho thấy cọc đá có chiều dài và mật độ đảm bảo sẽ làm tăng gấp 3 lần khả năng chịu lực cho đất yếu. Geocell và đệm cát có thể làm tăng khả năng chịu lực của đất nền lên 7 lần.
Tuy nhiên nếu được kết hợp cả Geocell, đệm cát và cọc đá, khả năng chịu lực của đất nền có thể gấp 10 lần so với đất nền ban đầu chưa gia cố.