Mở đầu bằng lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài và nêu lên cấu trúc của đề tài. Phần 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Khái niệm về học trực tuyến và điện toán đám mây, những yếu tố tác động đến sử dụng hệ thống và sự hài lòng của người dùng, mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng hệ thống, sự hài lòng của người dùng và sự thành công của hệ thống, các nghiên cứu đề tài liên quan, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Phần 3: Phương pháp nghiên cứu.
Phần này sẽ gồm thang đo và phần đề xuất quy trình nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu từ mẫu khảo sát để cho ra thông tin hữu ích trong nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu. Dựa vào thông tin khảo sát dưới Google form được gửi đi, phần này sẽ trình bày các kết quả chính gồm: các bảng về thống kê mô tả bộ số liệu, kiểm định độ tin cậy của thang đo, tiến hành phân tích các nhân tố khám phá, kết quả phân tích của tương quan và hồi quy tuyến tính bội, kiểm định các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người sử dùng về hệ thống học trực tuyến của sinh viên ở TP. HCM Phần 5: Kết luận Phần này sẽ đưa ra những kết luận chính, cụ thể từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người sử dụng đối với hệ thống học trực tuyến, một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến học trực tuyến trên điện toán đám mây song song với các nền tảng cơ sở lý thuyết hình thành khái niệm. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ xem xét các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu về hệ thống học trực tuyến mà tác giả đề xuất để cung cấp lập luật chặt chẽ cho bài nghiên cứu.1 Học trực tuyến trên điện toán đám mây 2. Khái niệm học trực tuyến Học trực tuyến (E-learrning) là học ảo thông qua máy tính hoặc thiết bị thông minh nối với nối với máy chủ ở xa, có lưu sẵn bài giảng, và phần mềm để có thể hỏi, yêu cầu và ra đề thi từ xa (Mayer, 2001). Học trực tuyến được xem là một trong những công nghệ giáo dục tiên tiến để hỗ trợ việc học và người học, với sự trợ giúp của các ứng dụng phần mềm được tích hợp vào môi trường học tập ảo, được mô tả là việc cung cấp học tập thông qua công nghệ và Internet (Gros & cộng sự, 2016; Hong & cộng sự, 2017; Aljawarneh, 2020).
Trong thế kỷ 21, học trực tuyến đã tạo ra một tác động đáng kể đối với nhiều đối tượng sinh viên khác nhau, bao gồm cả sinh viên học từ xa và sinh viên theo học các chương trình truyền thống tại các cơ sở giáo dục đại học (Azhari & Ming, 2015). Đặc điểm của học trực tuyến là đáp ứng yêu cầu học tập trong một xã hội hiện đại và đã tạo ra nhu cầu lớn về học trực tuyến từ các doanh nghiệp và viện giáo dục đại học. Cùng với sự phổ biến của Internet và các thiết bị điện tử cho phép truy cập Internet, học trực tuyến đã trở nên phổ biến rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục đại học trên toàn thế giới (Cidral & cộng sự, 2018). Theo Motaghian & cộng sự (2013), học tập trực tuyến là một sự đổi mới quan trọng trong việc cung cấp giáo dục trong thế kỷ 21, vì nó sử dụng giao tiếp dựa trên web, cộng tác, đa phương tiện, chuyển giao kiến thức và đào tạo để hỗ trợ học tập tích cực mà không có rào cản về thời gian và không gian.
Có thể nói rằng “hệ thống học trực tuyến là một loại hệ thống thông tin đặc biệt” với các đặc điểm và yêu cầu riêng biệt khi triển khai trong bối cảnh tổ chức (Wang, 2007). Điện toán đám mây Điện toán đám mây (Cloud Computing) thuật ngữ công nghệ phổ biến toàn cầu trong thế giới công nghệ thông tin. ĐTĐM là một loại hình tính toán mà người dùng không cần phải chi tiền để xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (Pocatilu & cộng sự, 2010). Theo Atmbrust & cộng sự (2009), ĐTĐM bao gồm hai thành phần chính: các ứng dụng được cung cấp dưới dạng dịch vụ qua Internet và các phần cứng, phần mềm hỗ trợ tập trung tại các trung tâm dữ liệu.
Các phần cứng và phần mềm hỗ trợ dịch vụ này thường được gọi là “đám mây”. Thay vì phải đầu tư xây dựng và duy trì hạ tầng CNTT, người dùng có thể thuê tài nguyên từ các nhà cung cấp dịch vụ đám mây qua Internet. Họ chỉ cần trả tiền cho mức sử dụng theo mô hình trả tiền theo mức sử dụng, giúp giảm chi phí đầu tư vào phần cứng và nhân sự bảo trì. Và hình thức này được gọi là “mây công cộng” và dịch vụ này được biết đến với tên gọi “tính toán tiện ích”.
Bên cạnh đó, ĐTĐM còn tạo thêm thuận lợi cho người cung cấp dịch vụ thông qua việc có thể lựa chọn cho mình một trung tâm dữ liệu phù hợp, có thể cung cấp dịch vụ mà không phải đầu tư một trung tâm dữ liệu riêng thông thường khá tốn kém. Nói cách khác ĐTĐM cho phép tăng cường tính chuyên môn hóa trong cung cấp dịch vụ (Viswanath & cộng sự, 2012). Dựa trên các cấp độ ảo hóa khác nhau, điện toán đám mây thường được chia thành ba loại dựa trên việc đóng gói các tài nguyên tính toán ở các lớp trừu tượng khác nhau: Cơ sở hạ tầng dưới dạng dịch vụ (IaaS) là việc cung cấp các máy chủ, hệ thống lưu trữ, thiết bị mạng, và các tài nguyên tính toán khác thông qua một dịch vụ tiêu chuẩn hóa, có thể truy cập qua mạng (Sun Microsystems, 2009). Nền tảng dưới dạng dịch vụ (PaaS) được biết đến như một dịch vụ trung gian đám mây, PaaS cung cấp môi trường lập trình, máy chủ web, và hệ thống phân phối, hỗ trợ quá trình phát triển, kiểm thử và triển khai phần mềm (Sun Microsystem, 2009).
Phần mềm dưới dạng dịch vụ (SaaS) là tầng cao nhất của các điện toán đám mây, hướng đến người dùng cuối, được sử dụng để phát triển và vận hành các ứng dụng phần mềm trên cơ sở hạ tầng đã được thiết lập sẵn (Sun Microsystem, 2009). Học trực tuyến trên điện toán đám mây Học trực tuyến dựa trên đám mây (Cloud-based E-learning) là sự phân chia của điện toán đám mây trong giảng dạy cho các hệ thống học trực tuyến; nó là tương lai cho công nghệ và cơ sở hạ tầng học trực tuyến (Viswanath & cộng sự, 2012). Học trực tuyến trên ĐTĐM là một hình dịch vụ tương tự như SaaS. Khi các tài liệu giáo dục cho các hệ thống học trực tuyến được ảo hóa trong các máy chủ đám mây, các tài liệu này sẵn sàng cho sinh viên và các doanh nghiệp giáo dục khác sử dụng dưới hình thức thuê từ các nhà cung cấp đám mây (Viswanath & cộng sư, 2012).
Theo Almaiah & cộng sự (2024) điện toán đám mây được áp dụng trong lĩnh vực học tập hợp tác, học tập trực tuyến dựa trên đám mây rõ ràng là một xu hướng hiện tại đã đạt được và nó có thể trở thành một giải pháp linh hoạt và có thể mở rộng hơn cho các tổ chức giáo dục mà không cần chi phí lớn cho các thiết bị đắt tiền, tốc độ truyền mạng thấp và dung lượng lưu trữ hạn chế có ảnh hưởng đến hệ thống học trực tuyến truyền thống. Không còn nghi ngờ gì nữa, nhiều tổ chức giáo dục đã triển khai các hệ thống học tập điện tử dựa trên đám mây để cho phép sinh viên của họ học từ mọi nơi và mọi lúc (Shiau & Chau, 2016). Ưu điểm và hạn chế của học trực tuyến trên điện toán đám mây 2. Ưu điểm Với sự tiến triển công nghệ thông tin nói chung và điện đoán đám mây nói riêng, học trực tuyến dựa trên điện toán đám mây đang nổi lên như một mô hình của giáo dục hiện đại vì mang đến nhiều lợi ích đáng kể.
Đầu tiên, nó giúp tối ưu hóa chi phí đầu tư vào phần cứng và phần mềm vì các dịch vụ và ứng dụng được cung cấp thông qua Internet và không bắt buộc người dùng phải triển khai hoặc duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ riêng (El-Sofany & cộng sự, 2013). Hơn thế nữa, học trực tuyến trên ĐTĐM giúp cải thiện hiệu suất vì người sử dụng hệ thống học trực tuyến hầu như không gặp sự cố về hiệu suất, do các ứng dụng và quá trình xử lý đều được thực hiện trên đám mây (Rao & cộng sự, 2012). Bên cạnh đó, học trực tuyến cho phép khả năng mở rộng linh hoạt, giúp đáp ứng nhu cầu của số lượng lớn người học mà không cần thay đổi cơ sở hạ tầng hiện có (Aljawarneh, 2020). Đồng thời, nhờ vào tính di động 9 và tính khả dụng cao, người học có thể truy cập vào kho tài liệu học tập từ bất kỳ đâu, vào bất cứ lúc nào, chỉ cần có kết nối mạng (González-Martínez & cộng sự, 2015).
Hạn chế Mặc dù có nhiều lợi thế vượt trội, song vấn đề học trực tuyến dựa trên điện toán đám mây cũng tồn tại một số hạn chế cần được cân nhắc để cải thiện hệ thống trong tương lai. Một trong những vấn đề chính là sự phụ thuộc vào Internet. Nếu kết nối không ổn định hoặc không đủ mạnh, việc truy cập tài liệu học tập có thể bị gián đoạn, ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập của người sử dụng (Cidral & cộng sự, 2018). Ngoài ra, bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm.
Việc lưu trữ dữ liệu trên đám mây có thể khiến thông tin cá nhân và tài liệu học tập của người dùng gặp rủi ro nếu nhà cung cấp dịch vụ không có các biện pháp bảo mật đủ mạnh (Aljawarneh, 2020). Trong bối cảnh học trực tuyến trên ĐTĐM, việc thiếu đi cơ hội giao tiếp trực tiếp cũng tác động đến sự phát triển các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết xung đột, khiến người học cảm thấy cô lập và giảm động lực, đặc biệt đối với người có xu hướng phụ thuộc vào sự hỗ trợ và khích lệ từ cộng đồng học tập truyền thống (Hrastinski, 2009).