Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về vanillin 1. Nguồn gốc Vanillin là hỗn hợp chất thơm tự nhiên phổ biến trên thế giới được tách chiết từ vỏ quả loài lan Vanilla planifolia. Trong số hơn 250 thành phần chất hóa học khác nhau được tách chiết từ vỏ quả, vanillin chiếm thành phần chủ yếu.
Lịch sử về nguồn gốc vanillin bắt đầu từ sự khám phá ra loài lan Vanilla planifolia ở Mesoamerica suốt những năm 1930. Người Aztecs (Mexico) được coi là cái nôi đầu tiên trong việc sử dụng vanilla cho đồ uống của họ. Sau đó, người Tây Ban Nha xâm chiếm và mang nó về Châu Âu, song mọi cố gắng để có thể trồng được cây Vanilla planifolia đều thất bại do không có sự thụ phấn tự nhiên. Cho đến khi nhà thực vật học Charles Morren phát hiện ra bí mật của sự miễn cưỡng sinh sản ở những vùng đất ngoài Mexico, điều này đã dẫn tới khám phá ra sự thụ phấn nhân tạo cho hoa cuả vanilla [71].
Ngày nay, vanilla được trồng phổ biến ở một số quốc gia như Indonesia, Trung Quốc, Madagascar, Mexico,… Hình 1.1: Sơ đồ phân bố vanilla trên thế giới 5 1. Cấu trúc, đặc điểm lí hóa Vanillin có dạng bột kết tinh màu trắng với mùi thơm mạnh, dễ chịu. Về mặt hóa học, vanillin là một phenolic aldehyde (3-methoxy-4-hydroxybenzaldehyde), có công thức phân tử là C8H8O3, bao gồm các nhóm aldehyte, ete, phenol [18].2: Công thức cấu tạo của vanillin và vanillin dạng bột (Converti et al., 2010) Các đặc tính lí hóa của vanillin được thể hiện dưới bảng sau: Bảng 1.1: Các đặc tính hóa lí của vanillin (Ravendra, Sharma, & Prem Shanker, 2012) Đặc tính Dữ liệu Trọng lượng phân tử 152.15 Nhiệt độ nóng chảy 80-810C Nhiệt độ sôi 2850C Độ hòa tan 1g/100ml Tỉ trọng hơi (không khí=1) 5.2 x 10-3 mmHg ở 250C Hằng số phân li pKa1= 7. Đặc tính sinh học Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những đặc tính của vanillin như chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống ung thư, chống bệnh hồng cầu lưỡi liềm,… [71].
Hoạt tính kháng vi sinh vật Vanillin và dẫn xuất thể hiện mức độ khác nhau về hoạt tính kháng nấm bao gồm các loại nấm men, nấm mốc gây hư hại thực phẩm [23]. Vanillin còn ức chế sự sinh trưởng của nấm men và nấm mốc trong nước hoa quả ép, thạch hoa quả [45] và trong bảo quản xoài chế biến tươi và chống lại một số nấm men gây bệnh quan trong trong y học như Candida albicans, Cryptococcus neoformans [16], [56]. Vanillin đóng vai trò như một tác nhân kháng khuẩn chống lại Escherichia coli, Lactobacillusp lantarum, Listeria innocua. Tuy nhiên cần có hướng nghiên cứu xác định nồng độ nhỏ nhất mà ở đó vanillin hoạt động như một chất kháng vi sinh vật cũng như chất bảo quản tự nhiên.
Hoạt tính kháng oxy hóa Vanillin đã được công nhận với khả năng chống oxy hóa cũng như hoạt tính phân hủy các gốc tự do. Vanillin có khả năng chống lại các tổn thương ở não dưới sự cảm ứng của carbon tetrachloride (CCl 4) tác nhân gây oxy hóa ở chuột [47], bảo vệ lớp màng ty thể gan khỏi quá trình oxy hóa được cảm ứng bởi sự nhạy cảm ánh sáng trên ty thể gan chuột [35]. Sự có mặt của vanillin với lượng nhỏ trong thực phẩm cũng giúp chống lại oxy hóa, ức chế sự tự oxy hóa ở sữa béo. Hoạt tính chống ung thư và đột biến Vanillin đã được nghiên cứu về hoạt tính chống ung thư và đột biến.
Vanillin ức chế đột biến ở locus CD59 trên NST 11 ở người được cảm ứng bởi hydrogene peroxide, N-methyl-N-nitrosoguanidine và mitomycin C [27]. Vanillin ức chế con đường Non-homologous ADN end- joining (NHEJ) gây ra sự đứt gãy trên mạch kép ADN bởi ức chế hoạt tính của ADN-PK (ADN protein kinase) , làm giảm số lượng khối u ruột cảm ứng bởi nhiều tác nhân trong mô hình chuột [7]. Hoạt tính hạ lipid trong máu Vanillin được sử dụng để ngăn chặn sự phát triển tình trạng bệnh lí như siêu mỡ trong máu. Hoạt tính dược lí của vanillin như một tác nhân hạ lipid trong máu khi nồng độ vượt quá phạm vi cho phép trong điều trị bệnh tiểu đường (type 2), rối loạn tim mạch, béo phì.
Trước đó đã có nghiên cứu vanillin làm giảm lượng triglycerin trong huyết tương, triglycerin liên kết với lipoprotein và triglycerin trong gan trên đối tượng chuột [72]. Hoạt tính chống tạo hồng cầu lưỡi liềm Vanillin trong các thí nghiệm in vitro đã chứng minh khả năng chống tạo hồng cầu lưỡi liềm bởi tác động của nhóm aldehyde với hemoglobin trong tế bào hồng cầu [5]. Tuy nhiên vanillin được hấp thụ theo đường uống không có tác động trị liệu bởi vì nó có sự phân hủy nhanh chóng trong dịch tiêu hóa. Để khắc phục vấn đề này, chế phẩm vanillin MX- 1520 đã được tổng hợp.
Lợi ích sinh học của loại thuốc này chống tạo thành hồng cầu lưỡi liềm mạnh gấp 5 lần so với vanillin tự nhiên [89]. Các hoạt tính khác Các loại dầu dễ bay hơi tách chiết từ nghệ, cỏ xả, húng quế kết hợp với 5% vanillin có tác dụng hiệu quả chống lại các loài muỗi [74]. Vai trò vanillin trong công nghiệp và đời sống Vanillin được sử dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm, sản xuất nước hoa, mỹ phẩm và dược phẩm [71]. Trong công nghiệp thực phẩm, vanillin là một phụ gia rất thông dụng, đặc biệt trong sản xuất kem đá lạnh (ice cream).
Ngoài sử dụng trong sản xuất kem, vanillin còn được dùng rất nhiều để làm tăng hương vị và tạo mùi thơm cho bánh, kẹo, cho các loại đồ uống. Hương thơm đặc trưng của vanillin được sử dụng trong lĩnh vực mỹ phẩm như tạo mùi cho nước hoa, kem, sữa dưỡng ẩm, nước hoa xịt phòng, xà phòng ,….2: Mức độ sử dụng vanillin trong các hạng mục thực phẩm Mức độ sử dụng (ppm) Sản phẩm Bình thường Tối đa Đồ nướng 74.0 Chất béo, tinh dầu 96.0 Nước sốt ngọt 358.4 Các sản phẩm sữa 221.0 Đồ uống loại II 26.2 Bơ sữa đông lạnh 1.7 Các sản phẩm sữa 247.1 Nguồn: CAS N°: 121-33-5 9 Bảng 1.3: Hàm lượng vanillin có trong các mặt hàng thực phẩm và mỹ phẩm Trạng thái Sản phẩm Hàm lượng TLTK vật lí Đồ uống không cồn 0.022% Bellanca, 1975) Nước ngọt 0.0% Hoà tan hoặc rắc lên Chocolate 0.097% bề mặt Kẹo Bonbons Lên tới 0.05% Chocolate sữa Lên tới 0.03% Đường cô Lên tới 0.015% ACF Mứt kẹo Lên tới 0.055% ChemieFarmaNV Đường vanillin 2% Bột Bình thường: 0.2% Nước hoa Tối đa: 0.005% Kem, sữa dưỡng ẩm Hòa tan Opdyke, 1977 Tối đa: 0.03% Bình thường:0.01% Xà bông Tối đa: 0.1% Nguồn: CAS N°: 121-33-5 Vanillin còn được sử dụng trong tổng hợp thuốc một số loại thuốc như: Aldomet (thuốc chống tăng huyết áp), L-dopa (điều trị di chứng của bệnh Parkinson) và Trimethoprim (điều trị chứng viêm đường hô hấp cấp và một số biến dạng của bệnh hoa liễu) [18], [24]. Vanillin còn là một chất khử mùi hữu hiệu để che giấu mùi khó chịu của nhiều loại mặt hàng như đồ may mặc, sản phẩm cao su, giấy và chất dẻo,…Thông thường chỉ cần đến một lượng nhỏ, vì mùi của vanillin có thể cảm nhận được ngay ở độ pha loãng khoảng 0,0000002 mg trong 1 m3 không khí [2]. Ngoài ra, vanillin còn được sử dụng ngăn chặn tạo bọt trong sự bôi trơn nhiều loại dầu, làm sáng trong lớp phủ kẽm bồn tắm, hỗ trợ sự oxi hóa tinh dầu hạt lanh, hấp dẫn côn trùng, ngăn chặn xỉn màu răng gây ra bởi khói thuốc lá, hòa tan vitamin B1 và xúc tác phản ứng trùng hợp methyl methacrylate [39].
Các con đường sinh tổng hợp vanillin 1. Con đường sinh tổng hợp vanillin trong thực vật Quả vanilla được thu hoạch khoảng từ 6 đến 8 tháng sau quá trình thụ phấn và ở giai đoạn này chúng chưa bộc lộ ra hương vanilla [79]. Mùi hương chỉ được giải phóng ra trong quá trình lên men, được gọi là “curing”. Khi glucoside, glucovanillin, các ß-glucoside liên quan bị thủy phân bởi enzyme ß-D-glucosidase sẽ giải phóng ra vanillin tự do và các chất liên quan [57].
Mặc dù vanillin là một trong số những chất hóa học được nghiên cứu nhiều song những con đường sinh tổng hợp chúng trong thực vật vẫn c̣ n gây nhiều tranh luận, bởi v́ chưa có nghiên cứu chính xác nào xác định và nêu ra đặc trưng của tất cả các bước trong con đường được đề xuất. Có một giả thiết nói rằng vanillin là sản phẩm của con đường acid shikimic. Ở con đường này, phenylalanine hoặc tyrosine trải qua khử amin hóa tới C 6 – C 3 phenylpropanoid, tiếp đó đóng vai trò như một cơ chất cho vanillin [30]. Con đường sinh tổng hợp vanillin từ axit ferulic trong vi sinh vật Một số vi sinh vật như vi khuẩn, nấm men, nấm mốc đã được nghiên cứu để xác định các gene mã hóa các enzyme xúc tác phản ứng tổng hợp vanillin từ các cơ chất khác nhau như lignin, eugeneol, isoeugeneol, axit ferulic, glucose,…Trong đó đáng chú ý nhiều là các chuyển hóa sinh học từ axit ferulic.
Axit ferulic là thành phần phenolic chủ yếu được tìm thấy trong thành tế bào của thực vật hai lá mầm, nên nó có thể được thu từ các nguồn phế phẩm nông nghiệp như vỏ ngu, cám ngu, củ cải đường, thành tế bào nội nhũ gạo, 11 lúa mỳ, lúa mạch. Axit ferulic còn là cơ chất ít độc tính nhất với vi sinh vật trong số các cơ chất được nghiên cứu. Vì vậy, có thể coi đây là cơ chất thích hợp cho sản xuất vanillin sinh học [50]. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra 5 con đường chuyển hóa axit ferulic thành vanillin, đó là con đường Non-β-oxidative deacetylation (CoA-dependent), β- oxidative deacetylation (CoA-dependent), Non-oxidative decarboxylation, CoA-Independent Deacetylation, Side-Chain Reductive.
Con đường Non-β-oxidative deacetylation (CoA-dependent) Các gene mã hóa enzyme cần cho con đường Non-β-oxidative deacetylation đã được xác định và xác nhận hoạt tính của chúng [25].3: Con đường Non-β-oxidative deacetylation (CoA-dependent) (Havkin-Frenkel & Belanger, 2010) Con đường này có ba bước xúc tác với sự tham gia của hai enzyme: 4- hydroxycinnamate-CoA ligase (4-CL) hay feruloyl-CoA synthetase, mã hóa bởi gene fcsvà 4-hydroxycinnamate CoA-hydratase/lyase (HCHL) hay enoyl-CoA hydratase/aldolas được mã hóa bởi gene ech. Đầu tiên, enzyme HCHL chuyển axit ferulic thành feruloyl-ScoA, sau đó 4-CL xúc tác thủy phân feruloyl-ScoA thành một chất trung gian tạm thời 4-hydroxy-3-methoxyphenyl-b-hydroxypropionyl- ScoA và tách chuỗi bên theo kiểu retro-aldol thành vanillin và acetyl-ScoA. Một 12 gene khác liên kết với gene fcs và gene ech mã hóa enzyme vanillin-xidoreductase gây oxi hóa vanillin thành sản phẩm khác [25]. Các gene và enzyme tham gia vào các phản ứng tương ứng đã được xác định ở các chủng Pseudomonas fluorescens AN103 [25], Pseudomonas sp.
HR199 [59], Streptomyces setonii [51], Amycolatopsis sp. Sự nhận biết về đặc trưng của các gene mã hóa cho các enzyme đưa ra cơ hội mới cho điều hướng trao đổi chất và cấu trúc các chủng tái tổ hợp.