Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QOS 1.Giới thiệu chung 1. Một số khái niệm về QoS [10] Chất lượng dịch vụ (QoS) liên quan đến lĩnh vực điện thoại và mạng máy tính là cho phép truyền tải lưu lượng theo yêu cầu đặc biệt, thực tế hiện nay nhiều mạng điện thoại và mạng máy tính được tích hợp để có thể dùng chung dịch vụ cũng như cung ứng thêm những dịch vụ mới với những yêu cầu dịch vụ nghiêm ngặt. Trên lĩnh vực điện thoại thì QoS được định nghĩa bởi ITU vào năm 1994, QoS bao gồm những yêu cầu liên quan đến một kết nối như: thời gian đáp ứng dịch vụ, mất tín hiệu, tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu, xuyên nhiễu, tiếng dội, ngắt mạch, đáp ứng tần số, mức ồn…trong QoS có khái niệm mức độ dịch vụ GoS bao gồm những gì liên quan của một kết nối đến chất lượng và độ hòa mạng cho dịch vụ nào đó ví dụ như đảm bảo tối đa khả năng thực hiện dịch vụ. Trong lĩnh vực mạng máy tính hay mạng truyền thông, chuyển mạch gói khác thì khái niệm kỹ thuật lưu lượng nói đến việc điều khiển tài nguyên hơn là chất lượng dịch vụ đạt được.
Chất lượng dịch vụ là khả năng cung cấp độ ưu tiên khác nhau cho những ứng dụng khác nhau đến cho người sử dụng hay luồng dữ liệu, hay đảm bảo chắc chắn mức năng lực cho luồng dữ liệu. Ví dụ như: tốc độ bit, độ trễ, trượt, khả năng mất gói, tốc độ lỗi bit…Đảm bảo QoS là quan trọng nếu năng lực mạng kém, đặc biệt là những ứng dụng đa phương tiện yêu cầu thời gian thực như Voip, gam onlin và IPTV, những dịch vụ này thường yêu cầu tốc độ bit cố định, độ trễ bé và trong những mạng mà năng lực bị giới hạn như mạng thông tin di động. Chất lượng dịch vụ truyền thống trong mạng viễn thông là sự phối hợp giữa việc truyền tải dữ liệu BE (Best offer) với việc giữ chỗ nguồn tài nguyên mạng phân gói dữ liệu trên đường dẫn truyền thông tin dữ liệu. Với việc thiết kế mạng NGN sẽ đáp ứng được điều này.
Một cấu hình quan trọng trong TOPO mạng NGN khác nhau chính là báo hiệu yêu cầu để đàm phán việc truyền dữ liệu có thể đi qua chung đường dẫn logic lẫn đường dẫn thực, cho nên sẽ được thêm một số yêu cầu/chính sách vào tuyến báo hiệu ứng dụng ở lớp dịch vụ bên trên đến lưu lượng ở lớp truyền tải bên dưới để cho phép những ứng dụng yêu cầu QoS được thực hiện ở lớp lưu lượng. Để thực hiện được điều này chính sách mới này yêu cầu một số chức năng khác như bản quyền, đối chiếu QoS trên lớp dịch vụ và lớp lưu lượng nghĩa là chính sách QoS sẽ quyết định kết quả. Chính sách mới cũng phải xảy ra với QoS end-to- nd nghĩa là thông qua sự phối hợp với giữa mạng, sóng mang và nhà cung cấp dịch vụ. Mạng hay nghi thức (protocol) được đảm bảo QoS được thỏa thuận trên hợp z 14 đồng lưu lượng về phần mềm ứng dụng và khả năng dự trữ trong nút mạng, ví dụ như trong giai đoạn thiết lập phiên, trong phiên có thể kiểm tra mức độ năng lực đạt được như là tốc độ dữ liệu và độ trễ, và điều khiển độ ưu tiên lập lịch tự động trong nút mạng.
Nó cũng có thể dự trữ dung năng trong suốt thời gian rời mạng. Mạng hay dịch vụ BE thì không đảm bảo QoS. Hơn nữa việc cung cấp chất lượng cao cho mạng BE là đòi hỏi sự phức tạp của kỹ thuật điều khiển cơ vì vậy nó chỉ hữu dụng cho tải lượng thấp, cho nên không có sự đánh giá nghẽn trong QoS cơ. QoS đôi lúc cũng được xem như là thước đo chất lượng, với nhiều định nghĩa khác nhau thường thiên về khả năng dữ trữ tài nguyên.
Chất lượng dịch vụ thỉnh thoảng được xem là mức chất lượng của dịch vụ nghĩa là đảm bảo dịch vụ có chất lượng. QoS mức cao thường bao gồm mức cao về năng lực hay chất lượng dịch vụ đạt được như tốc độ bit, độ trễ thấp hay lỗi bit thấp. Một định nghĩa về QoS gây nhiều tranh cãi đặc biệt sử dụng trên lớp dịch vụ như điện thoại hay video là yêu cầu m tric được phản ánh bởi chất lượng kinh nghiệm chủ quan. Th o nghĩa này thì QoS được chấp nhận với mức độ hài lòng của người sử dụng lâu dài trong tất cả các dịch vụ.
Khái niệm khác tương tự là QoE (quality of experience) phụ thuộc vào yêu cầu mà người sử dụng dự đoán, hay mức độ hài lòng của người sử dụng. Lịch sử phát triển [10] Thiết bị Switch và rout r thường dùng cơ chế best-effort. Những thiết bị này rẻ, đơn giản và nhanh hơn nên phổ biến là cạnh tranh được với những thiết bị phức hợp cung cấp được QoS. Trong thiết kế ban đầu có 4 bit “typ of s rvic ” và 3 bit “pr c d nc ” trên mã mào đầu của gói IP dùng cho QoS nhưng không được chú ý đến.
Với sự phát triển của IPTV, IP-telephony những bit này sau đó được định nghĩa lại như là DSCP (diffs r cod point) và thỉnh thoảng được chú ý đến trên những tuyến ngang hàng (peerlink) trên mạng internet hiện đại, thường kỹ thuật QoS được chú ý ở đầu cuối. Trong nhiều năm người ta gán dữ liệu liên quan đến QoS ở lớp 2 (lay r 2) nhưng sau đó thì lãng quên. Ví dụ như Fram Relay hay ATM. Hiện nay MPLS (một kỹ thuật giữa lớp 2 và 3) có chú ý đến chút ít.
Ngày nay trên mạng Ethernet cung cấp QoS thông qua nghi thức 802. Ethernet hầu như ở lớp 2. Trên Internet mạng riêng ảo VLAN có thể dùng nhiều mức QoS khác nhau. Ví dụ trên bộ chuyển mạch SW firbe-to-home cung cấp nhiều cổng th n t đến những VLAN khác nhau: Một VLAn co thể dùng cho int rn t (ưu tiên thấp), một dùng cho IPTV (ưu tiên cao hơn), một dùng cho IP-t l phony (ưu tiên cao nhất).
Những nhà cung cấp internet khác nhau có thể cung cấp dịch vụ trên những VLAN khác nhau. Chất lượng lưu lượng [10] Trong mạng chuyển mạch gói, QoS bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: con người và z 15 kỹ thuật. Yếu tố con người bao gồm: độ ổn định dịch vụ, khả năng cung cấp dịch vụ, trễ, thông tin khách hàng. Yếu tố kỹ thuật bao gồm: độ tin cậy, độ ổn định, khả năng bảo dưỡng, cấp độ dịch vụ GoS.
Trong quá trình chuyển mạch gói từ đầu phát đến đầu thu có nhiều vấn đề cần bàn tới trên quan điểm người gởi/người nhận như sau: Thông lượng thấp (low throughput): do nhiều loại tải khác nhau cùng chia sẻ tài nguyên mạng, tốc độ bit (thông lượng cao nhất) được cung cấp cho luồng dữ liệu cụ thể nào cũng có thể thấp hơn đa dịch vụ thời gian thực (multimedia real time) cho dù tất cả các luồng dữ liệu đều được lập lịch ưu tiên. Mất gói (loss packet): nếu dữ liệu đến bị ngắt hay bộ nhớ đệm đầy, trong trường hợp này tầng ứng dụng của bên thu sẽ yêu cầu truyền lại dẫn đến trễ. Mất gói do lỗi bit, ồn hay nhiễu đặc biệt thông tin di động hay trên đường dây cáp đồng quá dài. Bên thu sẽ nhận biết điều này và có thể yêu cầu truyền lại.
Độ trễ (latency): do gặp phải hàng đợi dài, gói sẽ phải tốn thời gian mới đến được nơi nhận. Không phụ thuộc vào thông lượng, trễ có thể xuất hiện mọi lúc ngay cả khi thông lượng hoàn toàn bình thường. Trong vài trường hợp trễ sẽ làm cho ứng dụng không thực hiện được như Voip hay gam onlin. Biến động trễ (jitt r): gói đi từ nguồn đến đích với những độ trễ khác nhau.
Độ trễ này khác nhau tại những vị trí khác nhau trên hàng đợi giữa nguồn và đích và vị trí này có thể khác với dự đoán. Sự khác nhau về trễ này gọi là Jitter, nó ảnh hưởng đến chất lượng luồng audio cùng với/hay video. Phân phối phi thứ tự (out-of-order delivery) khi tập trung những gói liên quan truyền qua mạng những gói khác nhau có thể đi th o những hướng khác nhau để đến đích do vậy sẽ nhận những độ trễ khác nhau. Kết quả là tại nơi nhận gói tin đến không giống thứ tự gởi đi.
Vấn đế này yêu cầu có nghi thức đặc biệt để sắp xếp lại thứ tự theo thời gian tại đích. Điều này rất quan trọng đối với video/Voip. Khái niệm Khuyến nghị của CCITT, E800 đưa ra một tính chất chung của QoS: “Hiệu ứng chung của đặc tính chất lượng dịch vụ là xác định mức độ hài lòng của người sử dụng đối với chất lượng dịch vụ”.[5] Khuyến nghị ETR300003 của ETSI chia và cải tiến định nghĩa của ITU thành các định nghĩa nhỏ hơn, nó phù hợp với các yêu cầu và quan điểm của các nhóm khác nhau trong viễn thông. Đó là: Yêu cầu QoS của người sử dụng Đề nghị QoS của nhà cung cấp dịch vụ Sự cảm nhận QoS từ phía khách hàng Việc thực hiện QoS của nhà cung cấp dịch vụ Yêu cầu QoS của nhà cung cấp dịch vụ z 16 Như vậy một cách tổng quan QoS mang ý nghĩa là “Khả năng của mạng đảm bảo và duy trì các mức thực hiện nhất định cho mỗi ứng dụng theo các yêu cầu đã chỉ rõ của mỗi người sử dụng”.
Một ý trong định nghĩa này chính là chìa khoá để hiểu được QoS là gì từ góc nhìn của nhà cung cấp dịch vụ mạng. Nhà cung cấp dịch vụ mạng đảm bảo QoS cung cấp cho người sử dụng và thực hiện các biện pháp duy trì mức QoS khi điều kiện mạng bị thay đổi vì các nguyên nhân như nghẽn, hỏng hóc thiết bị hay lỗi đường truyền v. v…QoS cần được cung cấp cho mỗi ứng dụng để người sử dụng có thể chạy ứng dụng đó. Tuy nhiên người sử dụng cũng cần phải tìm hiểu các thông tin từ người quản trị để hiểu mạng phải cung cấp những gì cần thiết cho mỗi ứng dụng.
Các nhà cung cấp dịch vụ mạng đưa ra thông tin đặc tả về giá trị thực tế của thông số QoS theo hai cách sau: Với môi trường kênh ảo cố định (PVC: Permanent Virtual Circuit), các giá trị của các tham số QoS có thể chỉ đơn giản được ghi bằng văn bản và trao lại cho đại diện của nhà cung cấp dịch vụ mạng và khách hàng với nhà cung cấp dịch vụ thoả thuận với nhau về cách thức sử dụng. QoS có hiệu lực trên PVC khi PVC sẵn sàng.