CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về hệ thống treo ô tô con a. Khái Niệm Hệ thống treo là một bộ phận quan trọng trong thiết kế cơ học của xe, là hệ thống liên kết đàn hồi giữa bánh xe với khung xe và vỏ xe. Bộ phận đàn hồi Bộ phận giảm chấn Hình 1.1: Cấu Tạo Hệ Thống Treo b. Công dụng Hệ thống treo có các công dụng như sau: - Mang được sức nặng của xe trong mọi điều kiện địa hình - Đảm bảo tiếp xúc của 4 bánh xe với mặt đường ( tăng khả năng kiểm soát ) - Nâng cao tính êm dịu bằng việc giảm tải trọng động từ mặt đường truyền qua lốp.
- Dập tắt dao động của thân xe, đảm bảo độ ổn định chuyển động, - Truyền lực và mômen tác động giữa bánh xe và khung xe. Yêu cầu 11 Trên hệ thống treo, sự liên kết giữa bánh xe và khung vỏ cần thiết phải mềm nhưng cũng phải đủ khả năng để truyền lực. Quan hệ này được thể hiện ở các yêu cầu chính sau đây : - Đảm bảo tần số dao động riêng thích hợp cho phần được treo (phụ thuộc chủ yếu vào độ võng tĩnh ft). - Có độ võng động hợp lí để không sinh ra va đập lên các ụ hạn chế va đập bằng cao su.
- Có độ dập tắt dao động hợp lí. - Đảm bảo ô tô không bị nghiêng khi quay vòng hoặc phanh. - Đảm bảo chiều rộng cơ sở và các góc đặt của các trụ đứng của các bánh xe dẫn hướng không thay đổi. - Đảm bảo tương thích giữa động học bánh xe dẫn hướng với động học dẫn động lái.
- Có độ tin cậy lớn, trong điều kiện sử dụng phù hợp với tính năng kỹ thuật, không hư hỏng bất thường. - Giá thành thấp và mức độ phức tạp của kết cấu không quá lớn. - Có khả năng chống rung và chống ồn truyền từ bánh xe lên thùng, vỏ tốt.2 Các bộ phận chính của hệ thống treo xe con. Hệ thống treo xe con gồm các bộ phận chính sau đây : 1.1 Bộ phận đàn hồi Bộ phận nối mềm giữa bánh xe và thùng xe, làm giảm tải trọng động khi xe chạy trên đường không bằng phẳng nhằm biến đổi tần số dao động cho phù hợp với cơ thể con người (60-80 lần/ph), đảm bảo tính năng êm dịu của ôtô.
Bộ phận đàn hồi có thể bố trí khác nhau trên xe nhưng nó cho phép bánh xe có thể dịch chuyển theo phương thẳng đứng. Trên xe con bộ phận đàn hồi thường gặp là loại: -Nhíp lá 12 -Lò xo trụ -Lò xo côn hoặc lò xo xếp -Thanh xoắn -Khí nén -Thuỷ lực Hiện nay người ta dùng các bộ phận đàn hồi có khả năng thay đổi độ cứng trong một giới hạn rộng. Khi xe chạy ít tải, độ cứng cần thiết có giá trị nhỏ, khi tăng tải thì độ cứng cần phải có giá trị lớn. Chính vì vậy mà cần phải có thêm các bộ phận đàn hồi phụ như: nhíp phụ, vấu tỳ bằng cao su biến dạng, đặc biệt là các bộ phận đàn hồi có khả năng thay đổi tự động độ cứng theo tải trọng kết hợp với các bộ phận thay đổi chiều cao trọng tâm của xe.2 Bộ phận giảm chấn Trên xe ôtô giảm chấn được sử dụng với các mục đích sau: + Giảm và dập tắt các va đập truyền lên khung khi bánh xe lăn trên nền đường không bằng phẳng nhằm bảo vệ được bộ phận đàn hồi và tăng tính tiện nghi cho người sử dụng.
+ Đảm bảo dao động của phần không được treo ở mức độ nhỏ nhất, nhằm làm tốt sự tiếp xúc của bánh xe với mặt đường đảm bảo tính năng lái và tăng tốc cũng như chuyển động an toàn. + Nâng cao các tính chất chuyển động của xe như khả năng tăng tốc, khả năng an toàn khi chuyển động. Để dập tắt các dao động của xe khi chuyển động giảm chấn sẽ biến đổi cơ năng thành nhiệt năng nhờ ma sát giữa chất lỏng và các van tiết lưu. Trên ôtô hiện nay chủ yếu sử dụng là giảm chấn ống thuỷ lực có tác dụng hai chiều ở cấu trúc hai lớp.3 Bộ phận dẫn hướng Đảm bảo các bánh xe dịch chuyển thẳng đứng ở mỗi vị trí của nó so với khung vỏ, bánh xe phải đảm nhận khả năng truyền lực đầy đủ.
Bộ phận dẫn hướng phải thực hiện tốt chức năng này. Trên mỗi hệ thống treo thì bộ phận dẫn hướng có 13 cấu tạo khác nhau. Quan hệ của bánh xe với khung xe khi thay đổi vị trí theo phương thẳng đứng được gọi là quan hệ động học. Khả năng truyền lực ở mỗi vị trí được gọi là quan hệ động lực học của hệ treo.
Trong mối quan hệ động học các thông số chính được xem xét là : sự dịch chuyển (chuyển vị) của các bánh xe trong không gian ba chiều khi vị trí bánh xe thay đổi theo phương thẳng đứng (z). Mối quan hệ động lực học được biểu thị qua khả năng truyền các lực và các mô men khi bánh xe ở các vị trí khác nhau. Thanh ổn định: Khi xe chuyển động trên nền đường không bằng phẳng hoặc quay vòng, dưới tác dụng của lực ly tâm hoặc độ nghiêng của thùng xe, phản lực thẳng đứng của 2 bánh xe trên 1 cầu xe thay đổi dẫn tới tăng độ nghiêng thùng xe và làm xấu khả năng truyền lực dọc, lực bên của bánh xe với mặt đường. Thanh ổn định điều khiển việc này bằng lực xoắn của lò xo, và giữ cho lốp bám xuống mặt đường.
Nó cũng hoạt động nếu các lốp xe ở một bên chạy qua những bề mặt có độ cao khác nhau 1.4 Các vấu cao su tăng cứng và hạn chế hành trình Trên xe con các vấu cao su thường được đặt kết hợp trong vỏ của giảm chấn. Vấu cao su vừa tăng cứng vừa hạn chế hành trình của bánh xe nhằm hạn chế hành trình làm việc của bánh xe.5 Các cơ cấu điều chỉnh hoặc xác định góc bố trí bánh xe Hệ thống treo đảm nhận mối liên kết giữa bánh xe và thùng vỏ, do vậy trên hệ thống treo có thêm các cơ cấu điều chỉnh hoặc xác định góc bố trí bánh xe. Các cơ cấu này rất đa dạng nên ở mỗi loại xe lại có cách bố trí khác nhau, các loại khác nhau.3 Tổng quan về dao động của ô tô Ngành ô tô trên thế giới ra đời và đã phát triển rất lâu đời. Công nghệ chế tạo ô tô hiện nay phát triển rất cao, số lượng ô tô càng nhiều, vận tốc ô tô nhanh hơn, ô tô được hoàn thiện về độ an toàn và êm dịu.
Những phát triển đột biến trên đã đưa đến 14 những vấn đề mới cho xã hội như tai nạn giao thông tăng, mức độ phá hủy mặt đường ngày càng nghiêm trọng hơn. Do đó những nghiên cứu về ô tô để hoàn thiện các kết cấu của ô tô nhằm nâng cao an toàn chuyển dộng và giảm ảnh hưởng xấu của dao động ô tô với môi trường là nhu cầu cần thiết của đất nước. Nghiên cứu về dao động ô tô nói riêng và về động lực học ô tô nói chung ngày càng được quan tâm đúng mức hơn. Ô tô là liên kết của hệ nhiều vật, các khối lượng đó được liên kết với nhau bằng các phần từ có đặc tính phi tuyến phức tạp như là giảm chấn, đàn hồi, sự va chạm của bánh xe.
Để nghiên cứu và khảo sát dao động luận văn tập trung vào những mục sau : - Chỉ tiêu đánh giá dao động - Mô hình dao động - Các hàm kích đông bao gồm mô hình vật lý và mô hình toán học 1.1 Chỉ tiêu đánh giá dao động Hiện nay có nhiều chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô. Dựa trên tài của nước ngoài kết hợp với các tài liệu vủa Viện khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động Việt Nam, ta có thể liệt kê một số chỉ tiêu như sau: - Chỉ tiêu về tần số Tần số dao động của ô tô trong giới hạn sau: n = 60 - 90 lần/phút đối với xe con n = 100 - 120 lần/phút đối với xe vận tải. Giá trị này được lấy theo tần số trung bình của người đi bộ, tương ứng với 1 - 1,5Hz. - Chỉ tiêu về gia tốc dao động Xác định dựa trên cơ sở trị số của bình phương trung bình của các gia tốc theo các phương X,Y,Z là: Zc, Xc,Yc.
Cụ thể, ta có : m Z c 2.0 2 s Các số liệu trên có thể xem là gần đúng để đanh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô, bởi vì nó dựa trên cơ sở số liệu thống kê. Mặt khác, điều quan trọng hơn là 15 dao động ô tô truyền cho con người thực chất là tác động ngẫu nhiên với dải tần số rộng và phức tạp cả theo hướng tác dụng. - Chỉ tiêu dựa trên số liệu cảm giác theo gia tốc và vận tốc dao động Chỉ tiêu này được dựa ra do tập thể các kỹ sư của Đức (VDI). Người ta đánh giá trên cơ sở cho răng cảm giác con người khi chịu dao động phụ thuộc vào hệ số độ êm dịu chuyển động K.
Nếu K = const thì cảm giác khi dao động sẽ không thay đổi. Hệ số K phụ thuộc vào tần số giao động, gia tốc giao động hoặc vận tốc dao động và phụ thuộc vào hướng dao động đối với trục thân con người (theo phương thẳng đứng và phương ngang) và phụ thuộc vào thời gian tác động của chúng lên cơ thể con người.2: Chỉ tiêu cảm giác theo gia tốc Hệ số K càng nhỏ thì càng dễ chịu đựng dao động và độ êm dịu của ô tô càng cao. Giá trị K = 0,1 tương ứng với ngưỡng kích thích. Khi đi lâu trên xe, cho phép K = 10 25, còn khi đi ngắn hoặc trên xe tự hành K = 25 63 Trên đây là đưa ra các số liệu ứng với tác động lên con người là hàm điều hoà.
Giá trị K có thể xác định bằng tính toán hoặc xác định bằng thực nghiệm. - Đánh giá cảm giác theo gia tốc dao động và thời gian tác động của chúng. Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra năm 1969 cho phép đánh giá theo các mức: thoải mái, mệt mỏi (cho phép dao động mà vẫn giữ được mức độ cho phép của cường độ lao động). Sự khác nhau của tiêu chuẩn ISO.
So với các tiêu 16 chuẩn khác là ở chỗ có tính đến thời gian tác động của dao động. Để đánh giá cảm giác, người ta sử dụng dao động thẳng đứng điều hoà tác động lên người ngồi và người đứng trong vòng 8 giờ.