Chương 1 - NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. Bài toán phân lớp dữ liệu 1. Khái niệm về phân lớp dữ liệu và bài toán phân lớp dữ liệu Khai phá dữ liệu: Khai phá dữ liệu nói chung có nghĩa là khai thác hoặc đào sâu vào dữ liệu ở các dạng khác nhau để có được các mẫu và để có được kiến 6 thức về mẫu đó. Trong quá trình khai thác dữ liệu, các tập dữ liệu lớn trước tiên được sắp xếp, sau đó các mẫu được xác định và các mối quan hệ được thiết lập để thực hiện phân tích dữ liệu và giải quyết vấn đề [28].
Phân lớp dữ liệu: Đây là một nhiệm vụ phân tích dữ liệu, tức là quá trình tìm kiếm một mô hình mô tả và phân biệt các lớp và khái niệm dữ liệu. Phân loại là vấn đề xác định một tập hợp các danh mục (quần thể con), một dữ liệu mới thuộc về loại nào, trên cơ sở một tập dữ liệu huấn luyện chứa các dữ liệu và các lớp của chúng đã được biết đến [28]. Phân lớp dữ liệu có thể chia làm các bước sau: Bước học tập (Giai đoạn đào tạo): Xây dựng mô hình phân loại. Các thuật toán khác nhau được sử dụng để xây dựng mô hình phân loại bằng cách làm cho mô hình học bằng cách sử dụng tập huấn luyện có sẵn.
Mô hình phải được đào tạo để dự đoán kết quả chính xác. Dữ liệu kiểm tra được sử dụng để ước tính độ chính xác của quy tắc phân loại. Bước phân loại: Mô hình được sử dụng để dự đoán và thử nghiệm mô hình đã xây dựng trên dữ liệu thử nghiệm và sau đó ước tính độ chính xác của các quy tắc phân loại. Dữ liệu kiểm tra được sử dụng để ước tính độ chính xác của quy tắc phân loại.
Ta có thể phát biểu bài toán phân lớp dữ liệu như sau: Đầu vào của bài toán phân lớp dữ liệu: Cho tập dữ liệu ban đầu D = {(xi, yi) | i = 1, 2, …, n}, trong đó, xi = (xi1, xi2, ., xik) Rk là dữ liệu gồm k thuộc tính ứng với tập thuộc tính A = {A1, A2, …, Ak} và yi C = {c1, c2, …, cm} là tập nhãn của các lớp dữ liệu ban đầu. Đầu ra của bài toán phân lớp dữ liệu: Một mô hình phân lớp F: Rk C, tương ứng mỗi phần tử x Rk là một nhãn lớp F(x) C, sao cho đối với tập mẫu đầu vào D là phù hợp nhất theo nghĩa sau đây: ||F(xi) – yi|| 0, với mọi (xi, yi) D và || || là một độ đo nào đó. Các bước giải quyết bài toán phân lớp dữ liệu Để giải quyết bài toán phân lớp dữ liệu ta tiến hành hai gian đoạn: giai đoạn đầu tiên ta xây dựng mô hình phân lớp (còn hay được gọi là giai đoạn Huấn luyện) và giai đoạn thứ hai là kiểm tra đánh giá mô hình phân lớp (còn được gọi là giai đoạn Kiểm chứng). Giai đoạn huấn luyện Quá trình này nhằm mục đích xây dựng ra một mô hình phân lớp dữ liệu dựa trên việc mô tả tập các lớp dữ liệu hoặc các khái niệm đã được xác định trước.
Trong giai đoạn này, thuật toán phân lớp được sử dụng để xây dựng mô hình phân lớp bằng cách phân tích hay “học” từ một tập các dữ liệu huấn luyện (training set) và các nhañ tương ứng của chúng [4]. Quá trình thực hiện giai đoạn học được mô tả trong hình 1. Mô hình Dữ liệu huấn TRAINING phân lớp luyện với các lớp đã biết Hình 1.1: Giai đoạn xây dựng mô hình phân lớp dữ liệu Kết quả sau khi kết thúc giai đoạn này là đưa ra một mô hình phân lớp dữ liệu. Mô hình phân lớp dữ liệu có thể là các công thức toán học, hoặc các luật quyết định, hoặc bộ các quy tắc để gán nhãn lớp cho mỗi dữ liệu trong tập các dữ liệu huấn luyện.
Giai đoạn kiểm chứng Ở giai đoạn này, mô hình phân lớp ở bước đầu tiên sẽ được sử dụng để thực hiện phân lớp thử nghiệm và đánh giá mô hình phân lớp. Tập các dữ liệu test hay tập kiểm chứng được sử dụng trong giai đoạn. Do đó, tập dữ liệu kiểm chứng được sử 8 dụng trong giai đoạn này phải độc lập với tập dữ liệu huấn luyện ở giai đoạn huấn luyện [4]. Quá trình thực hiện giai đoạn phân lớp thử nghiệm được mô tả trong hình 1.
Dữ liệu kiểm Dữ liệu được Mô hình phân lớp chứng chưa được phân lớp Hình 1.2: Quá trình kiểm tra đánh giá mô hình phân lớp dữ liệu Các kết quả phân lớp trong quá trình phân lớp thử nghiệm lại có thể sử dụng trong quá trình học tiếp theo. Sau khi thực hiện xong hai giai đoạn trên, một mô hình phân lớp phù hợp nhất theo một ý nghĩa nào đó (thông qua việc đánh giá các độ đo của mô hình) sẽ được lựa chọn để thực hiện việc phân lớp dữ liệu trong các bài toán ứng dụng khác nhau trong thực tế. Các độ đo để đánh giá mô hình phân lớp dữ liệu Sự phù hợp, mức độ hiệu quả của bất kỳ mô hình phân lớp dữ liệu nào cũng thường được xác định thông qua các độ đo được mô tả dưới đây. Xét một lớp dữ liệu ci C = {c1, c2, …, cm} trong một bài toán phân lớp.
Tập hợp các mẫu dữ liệu thuộc lớp ci được gọi là các phần tử dương (positive). Tập hợp các mẫu dữ liệu không thuộc lớp ci được gọi là các phần tử âm (negative). Kết quả phân lớp sau khi thực hiện phân lớp dữ liệu có thể xảy ra các trường hợp sau đây: True Positive (Trường hợp đúng dương): Phần tử dương được phân loại đúng là dương. False Positive (Trường hợp sai dương): Phần tử âm được phân loại sai thành dương.
True Negative (Trường hợp đúng âm): Phần tử âm được phân loại đúng là âm. 9 False Negative (Trường hợp sai âm): Phần tử dương được phân loại sai thành âm. Ta gọi TPi là số lượng các mẫu dữ liệu thuộc vào lớp ci được phân loại đúng (chính xác) vào lớp ci; gọi FPi là số lượng các mẫu dữ liệu không thuộc lớp ci nhưng bị phân loại sai vào lớp c i; gọi TNi là số lượng các mẫu dữ liệu không thuộc lớp ci và được phân loại chính xác và gọi FNi là số lượng các mẫu dữ liệu thuộc lớp ci nhưng bị phân loại sai vào các lớp khác với lớp ci. Căn cứ vào các đại lượng trên, các khái niệm độ đo sau để đánh giá mức độ hiệu quả của mô hình phân lớp dữ liệu: Độ đo Precision (Mức chính xác) Định nghĩa: Precision = TP / (TP + FP).
Ý nghĩa: Giá trị Precision càng cao thể hiện khả năng để một kết quả phân lớp dữ liệu được đưa ra bởi bộ phân lớp là chính xác càng cao. Ý nghĩa: Giá trị Recall càng cao thể hiện khả năng kết quả đúng trong số các kết quả đưa ra của bộ phân lớp càng cao. Ý nghĩa: Accuracy phản ánh độ chính xác chung của bộ phân lớp dữ liệu. Ý nghĩa: Độ đo Specitivity đánh giá khả năng một dữ liệu là phần tử âm được bộ phân lớp cho ra kết quả chính xác.
Tổng quan về học máy 10 Trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và nhân văn khác nhau, cũng như trong sinh học, khí tượng, y học hoặc tài chính, để trích dẫn một số, các chuyên gia nhắm vào dự đoán một hiện tượng dựa trên các quan sát hoặc đo lường trong quá khứ. Ví dụ, các nhà khí tượng học cố gắng dự báo thời tiết cho những ngày tiếp theo từ điề u kiện khí hậu của những ngày trước đó. Trong y học, luyện tập thu thập các phép đo và thông tin như huyết áp, tuổi hoặc tiề n sử chẩn đoán tình trạng của bệnh nhân. Ban đầu, trong hóa học, các hợp chất được phân tích bằng cách sử dụng khối phổ thử các phép đo để xác định xem chúng có chứa một loại phân tử hoặc nguyên tử.
Trong tất cả các trường hợp này, mục tiêu là sự thay đổi của một biến phản hồi dựa trên một tập hợp các yếu tố dự đoán được quan sát. Trong nhiề u thế kỉ, các nhà khoa học đã giải quyết những vấn đề như vậy bằng cách dẫn xuất theo khuôn khổ lý thuyết từ các nguyên tắc đầu tiên hoặc đã tích lũy kiến thức để mô hình hóa, phân tích và hiểu các vấn đề đang nghiên cứu. Ví dụ, các học viên biết từ những bệnh nhân cũ trong quá khứ, bệnh nhân cao tuổi bị đau tim với huyết áp thấp nói chung là rủi ro cao. Tương tự, các nhà khí tượng học biết từ lớp học các mô hình khí hậu mà một ngày nắng nóng, ô nhiễm cao có khả năng xảy ra tiếp theo là các diễn biến khác.
Tuy nhiên, đối với một số vấn đề ngày càng tăng về số lượng, các phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn bắt đầu chỉ ra các giới hạn của nó. Ví dụ, xác định thâm nhập các yếu tố nguy cơ di truyề n đối với bệnh tim, nơi mà kiến thức vẫn còn rất thưa thớt, gần như không thực tế đối với khả năng nhận thức của con người do sự phức tạp cao và phức tạp của các tương tác tồn tại trong gen di truyề n. Tương tự như vậy, đối với các dự báo khí tượng chi tiết, một số lượng lớn các biến cần phải được tính đến, nhanh chóng vượt ra ngoài khả năng của các chuyên gia để đưa tất cả họ vào một hệ phương trình. Để phá vỡ rào cản nhận thức này, máy móc với tốc độ và công suất ngày càng tăng đã được xây dựng và thiết kế từ giữa thế kỷ XX để hỗ trợ con người trong tính toán của họ.
Tuy nhiên, thật đáng ngạc nhiên, cùng với sự tiến bộ này về phần cứng, sự phát triển trong khoa học máy tính lý thuyết, trí thông minh nhân tạo và số liệu thống kê nhanh chóng đã chứng minh máy móc trở nên vượt trội hơn máy tính. Những tiến bộ gần đây đã khiến họ trở thành chuyên gia trong lĩnh vực riêng, có khả năng học 11 hỏi từ dữ liệu và tự khám phá cấu trúc dự đoán của các vấn đề. Các kỹ thuật và thuật toán bắt nguồn từ lĩnh vực máy học đã thực sự trở thành một công cụ mạnh mẽ để phân tích dữ liệu lớn và phức tạp, hỗ trợ thành công các nhà khoa học trong nhiề u bước đột phá của các biến thể trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.