CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về các phối tử N,N-điankyl-N’-aroylthioure N,N-điankyl-N’-aroylthioure (HL) là dẫn xuất của thioure [(NH2)2CS] trong đó hai nguyên tử hidro của một nhóm amino –NH2 bị thay thế bởi hai gốc ankyl R1, R2 và một nguyên tử hidro của nhóm amino –NH2 còn lại bị thay thế bởi một nhóm aroyl R3 như benzoyl, picolinoyl, furoyl,… hình thành phối tử hai càng (HL1). Thioure N,N-điankyl-N’-aroythioure Douglass và Dains đã tổng hợp được các N. Phương pháp này ngày nay trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để điều chế N’-aroylthioure thông dụng.
Dung dịch của các N-aroylthioure có tính axit yếu. Vì trong phân tử N-aroylthioure, nhóm imin (–NH) nằm giữa hai nhóm hút điện tử là –CO và –CS nên liên kết N–H rất linh động. Trong các tài liệu đã công bố, giá trị pK(NH) nằm trong khoảng 7,5 ÷ 10,9 trong dung dịch dioxan [14]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thioure Khi nghiên cứu cấu trúc N-aroylthioure bằng phương pháp nhiễu xạ tia X đơn tinh thể, nguyên tử H thường liên kết với nguyên tử N của nhóm imin.
Tuy nhiên, ở trong dung dịch, người ta đã phát hiện được cân bằng tautome hóa giữa ba dạng imin, ancol và thiol của aroylthioure. Trong đó, dạng imin là bền nhất còn dạng thiol thường kém bền hơn cả.1: Sự tautomer hóa trong phối tử HL1 Các N-aroylthioure khi tác dụng với các bazơ mạnh sẽ bị tách loại một proton tạo nên anion N-aroylthioureat. Điện tích âm trong N-aroylthioureat không chỉ định cư trên nguyên tử N mà được giải tỏa một phần trên các nguyên tử O và S. Phức chất của N,N-điankyl-N’-aroylthioure (HL1) Mặc dù N-aroylthioure được biết đến từ khá sớm.
Hóa học phối trí của N- aroylthioure được khởi đầu bằng công trình của L. Beyer và cộng sự năm 1975 [18], sau đó nó đã thu nút được sự quan tâm của nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới. Cho đến nay, người ta đã biết một lượng lớn các phối tử N-aroylthioure [4-11]. Phức chất của chúng với hầu hết các kim loại chuyển tiếp đã được nghiên cứu [7-27].
Trong các phức chất đã biết cấu trúc, đa phần N-aroylthioure tạo phức chất vòng càng với nguyên tử trung tâm qua hai nguyên tử cho là O và S [29]. Quá trình tạo phức chất thường đi kèm với sự tách photon của phối tử. Điện tích âm được giải tỏa đều trong vòng chelat và làm bền hóa phức chất [19]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Cơ chế tạo phức tổng quát của N,N-điankyl-N’-aroylthioure đơn giản Trong rất ít phức chất vòng càng, đặc biệt là của kim loại hóa trị thấp như {ReI(CO)3}, N-aroylthioure đóng vai trò là phối tử hai càng trung hòa[15,21].
Chúng liên kết với ion kim loại trung tâm (M) bằng các liên kết phối trí thông qua nguyên tử oxi của nhóm aroyl và nguyên tử lưu huỳnh của nhóm thioure hình thành vòng sáu cạnh tương đối bền [26]. Trong các trường hợp khác, N,N-điankyl-N’-aroylthioure có xu hướng mạnh tạo phối tử hai càng có điện tích -1. Đối với các cation kim loại hóa trị (II) d8, d9 như Ni(II), Pd(II), Pt(II) và Cu(II) các N-aroylthioure có xu hướng tạo phức chất vuông phẳng bis-chelat [M(L-O,S)2] ở dạng đồng phân cis [6,21,24,27]. Với các cation hóa trị III như Cr(III), Co(III), Fe(III), Ru(III) và Rh(III), N- aroylthioure ưu tiên tạo thành phức chất bát diện tris-chelat [M(L-O,S)2] ở dạng đồng phân fac [29].
Trong các phức chất của Cu(I), Ag(I) và Au(I) hay Pt(II) trong môi trường HX (X = Clˉ, Brˉ, Iˉ) phối tử N-aroylthioure còn có thể đóng vai trò là phối tử một càng và tồn tại đồng thời hai dạng đồng phân hình học cis- và trans-. Khi đó, ion trung tâm chỉ tạo liên kết phối trí với nguyên tử S của nhóm thioure[25]. Khả năng tạo phức chất của các N-aroylthioure hầu như không thay đổi cho dù trong nhóm aroyl không có nguyên tử cho như benzoyl hay có thêm nguyên tử cho N như picolinoyl hay S như furoyl. Ta có thể giải thích điều này bởi khả năng tạo phức chất vòng càng {O,S}- với độ bền vượt trội khi so với việc tạo phức qua các nguyên tử N, S dị vòng.
Cho đến nay, người ta mới chỉ phân lập được một số ít đồng phân trans [M(L-O,S)2] bởi chúng không bền nhiệt động. Dưới tác dụng của ánh sáng, đồng phân trans của N- aroylthioure với Pt(II) chuyển hóa nhanh tạo thành dạng đồng cis [16]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thioure Ứng dụng của N.N-điankyl-N’-aroylthioure và phức chất của nó N.N-điankyl-N’-aroylthioure được ứng dụng nhiều trong việc tách và tinh chế kim loại quý [25]. Một ứng dụng quan trọng khác của N’-aroylthioure và phức chất N’- aroylthioureato kim loại là dựa vào hoạt tính sinh học của chúng.
Thioure nói chung và N’-aroylthioure nói riêng cùng với phức chất kim loại của chúng là những tác nhân kháng khuẩn và chống trị nấm rất tốt. Hai phối tử N-benzoyl-N’,N’-butylmetyl thioure (1) và N-benzoyl-N’, N’-etylisopropyl thioure (2) cùng một số hợp chất với Ni(II), Co(III), Pt(II) ức chế sự phát triển Penicillium digitatum và men Saccharomyecs cerevisiae rất cao. Hợp chất của Co(III) với phối tử (2) có khả năng ngăn chặn khuẩn đạt 88,1%, cao hơn hoạt tính của phối tử và phức chất với Ni(II), Pt(II). Tuy nhiên phức chất của Co(III) với phối tử (1) chỉ tiêu diệt 63,6% khuẩn, thấp hơn phức chất cùng phối tử của Ni(II) (80,3%), Pt(II) (96,1%) hay phối tử (1) (93,5%)[28,29].
Chúng là những đối tượng tiềm năng cho việc phát triển các loại thuốc kháng sinh mới. Nhiều phối tử N’-aroylthioure khác có khả năng kháng virus [28], ức chế tế bào ung thư [29] khá tốt. Giới thiệu về phối tử aroylbis(N.N-điankylthioure) Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tăng dung lượng phối trí của aroylthioure bằng cách đưa thêm một nhóm thiourea vòng càng tạo nên các aroyl bis(N. Trong đó được nghiên cứu nhiều nhất là các phtaloyl bis(N.
Do có hai nhóm thiourea vòng càng nên các aroyl bis(N.N- điankylthioure) có xu hướng tạo phức chất với hai nguyên tử trung tâm khác nhau. Điều này mở ra một hướng nghiên cứu thú vị về tổng hợp các phức chất đa kim loại, các polymer phối trí hoặc các hợp chất siêu phân tử. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thioure Các phối tử aroyl bis(thioure) là có khả năng tạo với ion kim loại chuyển tiếp những phức chất trung hòa kiểu hợp chất vòng lớn chứa kim loại (metallomacrocyclic). Kích thước vòng lớn phụ thuộc vào vị trí các nhóm thế trên gốc phenyl cũng như hóa học phối trí của ion trung tâm.
Hệ vòng lớn 16 cạnh tạo nên khi phối tử 1,3-phtaloyl -bis (N.N- điankylthioure) tạo phức chất với tỉ lệ phối tử : kim loại là 2:2 [15]. Phối tử 1,4-phtaloyl- bis (N.N-điankylthioure) có xu hướng tạo phức chất với tỉ lệ phối tử : kim loại là 3:3 và tạo nên hệ vòng lớn 27 cạnh [23].3: Cấu trúc phức chất của phối tử aroyl bis(N,N-điankylthioure) với kim loại theo tỉ lệ 2:2 Phối tử 1,4-phtaloyl bis(N,N–điankylthioure) có xu hướng tạo phức chất với tỉ lệ phối tử : kim loại là 3:3 thì tạo nên hệ vòng lớn 27 cạnh [23].4: Cấu trúc phức chất của phối tử aroyl bis(N,N-điankylthioure) với kim loại theo tỉ lệ 3:3 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giới thiệu về phối tử dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure (H2L) Năm 2000, L. Beyer và các cộng sự là những người đầu tiên tổng hợp được phối tử dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure nhờ phản ứng giữa N,N – dietyl thioure và pyridine - 2,6– dicacbonyl điclorua trong điều kiện có mặt của trietylamin và dung môi THF khan [28].
Hệ phối tử này hứa hẹn nhiều tính chất lí thú bởi nó có cấu tạo khá giống với 1,3- phtaloyl -bis (N.N-điankylthioure) nhưng có thêm một nguyên tử cho N dị vòng. Điều này dẫn đến các hệ vòng lớn được tạo thành có khả năng phối trí giống như các hệ crown ete. Vì vậy, hệ phối tử H2L được kì vọng sẽ tạo nên các phức đa nhân chứa hỗn hợp ion kim loại nhóm d-f hoặc d-s. Điều đó hoàn toàn có cơ sở khi phần trung tâm của phối tử H2L tạo phức chất với ion kim loại kiềm thổ hoặc đất hiếm có bán kính lớn giúp phối tử đồng phẳng tạo thuận lợi để hợp phần thioure tạo phức chất với cation kim loại hóa trị (II) như Ni2+, Cu2+, Co2+, Fe2+,Zn2+ tạo nên phức chứa vòng lớn kiểu crown ete.
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới các nghiên cứu về phức chất của dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure vẫn chưa nhiều. Mặc dù, các tác giả này đã phát hiện khả năng tạo phức chất của phối tử này lại rất khác so với 1,3-phtaloyl -bis (N. Họ đã không thể phân lập được hợp chất vòng lớn giữa dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure và các cation hóa trị II. Cho đến trước năm 2016, chỉ duy nhất một phức chất polime của dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure với Ag(I) được L.
Beyer và các cộng sự công bố [28]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thioure Phức chất này có cấu trúc polime, trong đó tepytu đóng vai trò là một phối tử hai càng S,S-cho với bạc. Hai ion bạc và hai phân tử teputu hình thành lên một mắt xích của polymer, bên cạnh đó phân tử tepytu thứ ba đóngvai trò là cầu nối giữa hai mắt xích của [Ag(tepytu)2] với việc mỗi nguyên tử S tạo với một ion bạc của hai mắt xích khác nhau. Chính vì thế các ion bạc trong polime này đều tồn tại dưới dạng tứ diện lệch.
Phức polymer {[(Ag2L)3](ClO4)2}n và phức chất cis-[Ni2(L-S,O)2(H2O)4] Ngoài ra, bằng tính toán lý thuyết, tác giả Oren Hallale [23] đã dự đoán cấu trúc của phức chất H2L với Ni2+ ở dạng cis-Ni2(L-S,O)2(H2O) tuy nhiên đến nay phức chất này vẫn chưa được tổng hợp. Các phức chất hỗn hợp kim loại của dipicolinoyl - 2,6 - bis thioure mới lần đầu tiên được công bố vào năm 2016. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hai phức chất hỗn hợp kim loại đã được công bố [12] Các tác giả [12] đã cho thấy phức chất hỗn hợp kim loại d-f với phối tử H2L được tạo ra chủ yếu do quá trình tự sắp xếp của các hợp phần.
Cấu trúc của sản phẩm quyết định phần nhiều bởi sự chọn lọc tính acid – base cứng – mềm. Các nguyên tử đất hiếm (chuyển tiếp nhóm f) là các acid cứngnên xu hướng tạo phức chất tốt hơn với hợp phần trung tâm, còn ion kim loại chuyển tiếp nhóm d thì có tính acid mềm hơn nên ưa tạo phức chất chelat với hợp phần thioure qua bộ nguyên tử cho (S,O). Quá trình tạo phức chất thường đi kèm với việc tách loại 2 proton nên phần khung phân tử chính có điện tích +3. Yếu tố lập thể của phối tử cũng như của các nhân kim loại cho phép dự đoán phần khung phân tử chính tồn tại ở dạng gần phẳng.
Điện tích của hợp phần chính thường được bù trừ bởi ba ion axetat, kết nối giữa các nhân kim loại với nhau.