CHƯƠNG 1. MỞ DAU Ngành tôm đã phát triển nhanh chóng do nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng. Với sự gia tăng sản lượng nuôi tôm toàn cầu, hiện tượng tôm chết hàng loạt do dịch bệnh thường xuyên bùng phát đã trở thành một trở ngại lớn cho ngành. Năm 2009, sự bùng phát một loại bệnh mới nổi gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease, AHPND) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được ghi nhận ở các nước khác như: Việt Nam năm 2010, Malaysia năm 2010, Thái Lan năm 2011, Mexico năm 2013, Philippines năm 2015, các nước Nam Mỹ năm 2016, Bangladesh và Hoa Kỳ năm 2017, Đài Loan năm 2018, Hàn Quốc năm 2019, và tỉnh Okinawa của Nhật năm 2020 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi tôm tại các nước nay [1].
Vào đầu năm 2013, tác nhân gây bệnh AHPND được xác định là Vibrio parahaemolyticus (VPAnpụxn). parahaemolyticus có mang plasmid (pVAI hoặc pVA3-1) khoảng 70-kb mã hóa hai độc tố PirA’?/PirB’? (hai độc tố nay còn có tên gọi là ToxA/ToxB) giống như hai độc tố PirA va PirB ở côn trùng Photorhabdus (Pir- like toxins). ToxA/ToxB được tiết ra, phóng thích vào gan tụy và gây bệnh AHPND [2]. Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hiệu quả bệnh AHPND cho tôm nuôi.
Việc phát hiện sớm bệnh AHPND ở tôm rất quan trọng cho việc quản lý các trang trại nuôi tôm nhằm giảm thiêu thiệt hại kinh tế nghiêm trọng do sự bùng nỗ của bệnh gây ra. Hiện nay, có nhiều phương pháp dé phát hiện bệnh như quan sát trực tiếp tôm bệnh và mô bệnh học, ELISA dé xác định độc tố ToxA/ToxB và PCR xác định gen pữA' và pirB’? [3]. Tuy nhiên, các phương pháp này khó ứng dụng ngay tại trang trại nuôi tôm vì cần phải có thiết bị chuyên dùng, đắt tiền nhất là nhân viên kỹ thuật phải được huấn luyện thuần thục. Que thử là một công cụ hoạt động theo nguyên lý miễn dịch với ưu điểm phát hiện nhanh, chính xác, độ nhạy cao, đơn giản, dễ sử dụng trên thực địa, không yêu cầu trang thiết bị và dé dàng tập huấn thuần thục cho nông dân tại chỗ, rất phù hợp dé nghiên cứu phát triển nhăm đáp ứng yêu cầu thực tế trên.
Hiện nay, trên thế giới chỉ có hai nghiên cứu về phát triển que thử phát hiện từng loại độc tô riêng biệt như là sử dụng kháng thể đa dòng để phát hiện protein ToxA hoặc kháng thé đơn dòng dé phát hiện protein ToxB [4, 5]. Lần đầu tiên trong nước, nghiên cứu nay sử dụng kháng thé da dòng dé phát hiện đồng thời cả hai độc tố ToxA và ToxB giúp sang lọc nhanh mam bệnh AHPND tai ao nuôi. Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Phát triển que thử phát hiện nhanh hai độc tố ToxA và ToxB của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi. Nội dung nghiên cứu: - Tạo dòng, biểu hiện, tinh sạch độc tố tái tổ hợp ToxA, ToxB cua Vibrio parahaemolyticus.
- Tạo kháng thé khang độc tố tái tổ hợp ToxA, ToxB trên thỏ. - Tạo que thử phát hiện nhanh độc tố ToxA, ToxB của Vibrio parahaemolyticus gây bệnh AHPND trên tôm nuôi. - Đánh giá khả năng ứng dụng của que thử trên mẫu tôm bệnh. TÔM VÀ NGHE NUÔI TÔM 2.
Tình hình nuôi tôm Hiện nay, nuôi tôm là một ngành nông nghiệp phát triển. Việc nuôi tôm thương mại đầu tiên bắt đầu những năm 1970 và sản lượng sản xuất tôm đã phát triển nhanh chóng dé theo kip doi hỏi của thị trường đặc biệt là Mỹ, Nhật, Tay Âu. Khoảng 75% sản lượng tôm xuất khâu 1a từ các nước châu A, như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,. và 25% còn lại là từ các nước Nam Mỹ.
Cuộc khảo sát xu hướng sản xuất tôm của Tổ chức Nuôi trồng Thuỷ sản toàn cầu kết hợp dữ liệu từ Tô chức Lương Nông của Liên hợp quốc cho thấy sản lượng sản xuất tôm ước tinh theo các vùng trên thế giới trong giai đoạn 2010-2021 được thé hiện trong hình 2.0 + m Khac 45 + t(lSầưảrnợiệ)gu | Trung Đông/ 4.5 4 ¬ lễ = Châu Mỹ 3.1: Sản lượng tôm sản xuất theo vùng [6] Nước ta với hệ thống sông ngòi day đặc và có đường biên dai rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Các sản phẩm thủy sản được nuôi trồng chủ yếu là cá, tôm và thủy sản khác; trong đó thủy sản nuôi dé xuất khẩu chủ yếu là tôm và cá tra (Hình 2. Xuất khẩu tôm chiếm tỉ trọng cao nhất, tăng trưởng cao nhất và ôn định nhất [7]. 8 Nhuyễn the E Giáp xác khác 8.2: Các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2020 [7] Trong tháng 4/2022, xuất khâu tôm của Việt Nam đạt hơn 442 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm 2021.
Tổng kim ngạch xuất khâu tôm bốn tháng đầu năm nay đạt kỷ lục trong 5 năm trở lại đây với 1,4 tỷ USD, tăng 45% so với cùng kỳ. Có thể thấy sau những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, ngành tôm Việt Nam đã có bước chuyển mình mạnh mẽ và khởi đầu tốt đẹp. Hiện nay, tôm Việt Nam được xuất khẩu đến 100 quốc gia và Việt Nam van là nước đứng thứ 3 trên thế giới, chi sau An Độ và Ecuador về xuất khẩu tôm. Các thị trường chính của tôm Việt Nam vẫn là Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc [8].
Các loài tôm được nuôi gồm có tôm sti (Penaeus monodon), tôm thẻ chân trắng Thái Bình Duong (Penaeus vannamei), tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), và một số loại khác. Trên thế giới, tôm sú là loài được nuôi chủ yếu kế từ năm 1995, và sau đó đã chuyên đổi phần lớn sang tôm thẻ chân trắng năm 2001 do lợi thế thời gian nuôi ngắn, năng suất nuôi cao (Hình 2. Tại Việt Nam, những thử nghiệm đầu tiên trong sản xuất giống tôm biển (P. penicillatus) đã được tiễn hành vào những năm 1970 ở miền Bắc Việt Nam.
monodon) đã được sản xuất thành công tại các tỉnh miền Trung. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất các loài tôm giống bản địa (P. indicus) bắt đầu vào năm 1988 và sau đó đã chuyên đôi phan lớn sang tôm st năm 1997. Tôm thẻ chân trắng Thai Binh Dương (P.
vannamei) đã được đưa vào Việt Nam năm 2000 và nhanh chóng phát triển ở các tỉnh miền Trung. Ké từ năm 2007, nuôi tôm thẻ chân trắng đã lan rộng vào đồng bằng sông Cửu Long và dan thay thế con tôm sú do thời gian nuôi ngắn, năng suất nuôi cao [9]. Hiện nay, diện tích tôm nước lo đạt 747 nghìn ha (nuôi tôm st là 626 nghìn ha, nuôi tôm thẻ chân trắng là 121 nghìn ha). Sản lượng tôm nuôi các loại năm 2021 đạt 970 nghìn tan (tăng 4,3% so với năm 2020); trong đó, tôm st 265 nghìn tan, tôm thẻ chân trang 655 nghìn tấn, còn lại là tôm khác [9].0 454 404 Phan trãm chỉ ¿ 15+ 3.0 118181 N 28 ee ee oe oe oe oe oe sỉ oe oe oe oe n sĩ s sỉ oo GÀ, 1995 1996 1997 1995 1999 2000 2001 2007 2 2004 2005 2006 2007 2008 2000 7010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 P.
rosenbergli " Other Hình 2.3: Tình hình nuôi các loài tôm trên thé giới [1] 2. Tình hình dịch bệnh “Bệnh” trên tôm được nhận định là thách thức quan trọng nhất của ngành công nghiệp nuôi tôm. Khu vực Chau A — Thái Binh Dương là nơi nuôi trồng thủy sản lớn nhất trên thế giới đang phải đối mặt với các bệnh mới nỗi trên tôm, có thé gây thiệt hại lớn về kinh tế. Các tác nhân gây bệnh quan trọng bao gồm vi rút, vi khuân, nắm và kí sinh trùng.
Theo Cục Thú y, trong năm 2022, dự báo tình hình dịch bệnh thủy sản và thiệt hại trong nuôi trồng thủy sản sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp do ảnh hưởng khó lường của dịch bệnh COVID-19 sẽ có tác động xấu đến việc tô chức sản xuất và triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh thủy sản. Hạ tầng nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; diễn biến thời tiết phức tạp, ô nhiễm môi trường,. tác động xấu đến môi trường sống của thủy sản nuôi, gây thiệt hại và có nguy cơ làm bùng phát dịch bệnh. Đồng thời, một số mầm bệnh nguy hiểm vẫn lưu hành rộng tại một sỐ vùng nuôi [10].
Do đó, dé triển khai hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt “Kế hoạch quốc gia phòng, chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021-2030” (theo Quyết định số 434/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ). Đối với tôm nuôi nước lợ (tôm thẻ, tôm sú), tập trung vào các bệnh nguy hiểm đang lưu hành và các bệnh nguy hiểm, bệnh mới nổi trên tôm có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước. Các bệnh nguy hiểm đang lưu hành bao gồm: bệnh đốm trăng (WSD), hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHND), vi bao tử trùng (EHP). Các bệnh nguy hiểm trên tôm có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước gồm có: hội chứng Taura (TS), đầu vàng (YHD), bệnh do DIVI (DIV1), hoại tử gan tụy (NHP), teo gan tụy (HPD), hoại tử cơ (IMN).
Đối với tôm tôm càng xanh là bệnh trắng đuôi (WTD) [11]. Theo báo cáo của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Hội nghị trực tuyến về phòng, chống dịch bệnh động vật các tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022 vừa qua, trong 8 tháng đầu năm 2021, bệnh trên tôm gây thiệt hại khoảng 16.253 ha, giảm 58,8% so với cùng kỳ năm 2020 (39. Tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại 15.698 ha, chiếm khoảng 2,2% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước và chiếm 96,6% trong tổng diện tích thủy sản nuôi bị thiệt hại, giảm gần 58% so với cùng kỳ năm 2020 (37. Theo kết quả giám sát chủ động, xét nghiệm định kì tại các cơ sở sản xuất giống thủy sản trên địa bàn của các tỉnh cho thấy một số dịch bệnh lưu hành chính trên tôm là bệnh: hoại tử gan tụy cấp (AHPND), bệnh đốm trăng (WSD), bệnh hoại tử đưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHND), vi bao tử trùng (EHP) và bệnh còi (MBV) [9].
BỆNH HOẠI TỬ GAN TỤY CÁP 2.