CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu bệnh giun móc/mỏ. Lịch sử nghiên cứu bệnh giun móc/mỏ trên thế giới Bệnh giun móc/mỏ đã được mô tả từ lâu, các triệu chứng lâm sàng của bệnh giun móc đã được mô tả từ thời cổ đại ở Brazil, Ả Rập, Ý. Đến thế kỷ 17, các tác giả Pison và Margraff (1648), Jackob de Bondr (1629) đã mô tả chi tiết và đầy đủ hơn các triệu chứng lâm sàng của bệnh.
Năm 1838, Angelo Dubini phát hiện giun móc trên tử thi của một bệnh nhân ở Milan [53]. Năm 1877 - 1880, qua các điều tra cơ bản ở Ý, Grassi, Maggi, Pavesi và Parona đã xác định căn nguyên của bệnh và phương pháp chẩn đoán bệnh giun móc. Năm 1880, khi xây dựng đường tàu điện ngầm ở St Gotthard Rail hàng ngàn công nhân đã tử vong, người ta đã phát hiện ra giun móc gây bệnh trên một diện rộng và nguyên nhân tử vong là do thiếu máu, suy kiệt. Thủ phạm gây bệnh đã được chứng minh là do giun móc A.
Năm 1897, Arethus Looss tình cờ tự nhiễm bệnh do làm rơi ấu trùng nuôi cấy trên da tay, sau đó vài tuần xét nghiệm phân của mình và tìm thấy trứng của giun móc. Sau đó Arethus Looss viết nên chu kỳ gây bệnh của giun móc trên người và phân loại tác nhân gây bệnh. Sau đó đặt tên loại giun này là A. Ngày nay, nhiều kỹ thuật mới hiện đại đã được áp dụng nghiên cứu tỷ lệ, thành phần loài giun móc, Robert Muriuki Mugambi và CS (2015), đã sử dụng kỹ thuật LAMP để định danh loài N.
americanus, kết quả cho độ nhạy và độ đặc hiệu 100% [58]. Lịch sử nghiên cứu bệnh giun móc/mỏ ở Việt Nam Bệnh giun móc/mỏ đã được biết đến từ lâu. Năm 1936, Đặng Văn Ngữ và cộng sự đã điều tra cơ bản giun sán y học ở Việt Nam. Sau 1945, các nghiên cứu được đẩy mạnh về đặc điểm sinh học, bệnh 3 học, dịch tễ học, phác đồ và hiệu quả của các loại thuốc điều trị giun móc/mỏ.
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy trong hai loại giun móc và giun mỏ thì giun mỏ N. americanuschiếm 95% các trường hợp nhiễm bệnh, giun móc A. Tình hình nhiễm giun móc/mỏ trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm giun móc/mỏ trên thế giới Bệnh giun móc phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt bệnh lan tràn còn phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường sống và làm việc của con người.
Ở các nước có khí hậu lạnh bệnh lưu hành ở các vùng có mỏ than ở dưới mặt đất. Ở đấy có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, phù hợp với điều kiện cho mầm bệnh giun móc/mỏ có thể phát triển. Theo ước tính của WHO (2003), trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người bị nhiễm giun móc/mỏ và 65.000 người chết do giun móc/mỏ hàng năm [2]. Ở các nước xứ lạnh bệnh phát triển ở các vùng mỏ than dưới mặt đất vì ở nơi này có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, phù hợp với đời sống sinh hoạt của công nhân các mỏ than.
Tuy nhiên hiện nay do điều kiện lao động của công nhân mỏ than được cải thiện nhiều nên bệnh này cũng giảm nhiều. Ngoài ra ở các nước nhiệt đới và bán nhiệt đới bệnh giun móc/mỏ có liên quan tới nông dân ở những vùng trồng mía, trồng dâu nuôi tằm, cà phê, thuốc lá. Ở Châu Phi, khắp vùng vành đai nhiệt đới có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao. Ở Tây Phi tỷ lệ này thay đổi từ 30 - 90%.
Nghiên cứu của Brooker Simon, Hotez, Poly Carp Uche Agu và nhiều nhà khoa học khác cho thấy số trẻ em nhiễm giun móc/mỏ trong các trường học ở Châu Phi là 179,3 triệu. Số trẻ em sống trong vùng có nguy cơ cao nhiễm giun móc/mỏ và sốt rét chiếm 50% dân số sống trong vùng có nguy cơ cao chiếm 27,9 - 45,1% số ca nhiễm giun móc/mỏ của cộng đồng [61], [65]. Theo Rachel Pullan, tổng hợp số liệu đến 2010 cho thấy trên toàn cầu có 819 triệu người nhiễm giun đũa thì có tới 519 triệu người nhiễm thuộc 13 khu vực Châu Á, chiếm 71,9%, khu vực Châu Phi 142,2 triệu ca chiếm 17,4%. Trong tổng số 464,6 triệu ca nhiễm giun tóc có tới 282,3 triệu người khu vực Châu Á chiếm 4 60,8% và 109,5 triệu người thuộc Châu Phi chiếm 23,6%.
Tương tự như vậy, khu vực Châu Á và Châu Phi chiếm tới 92,1% tổng số trường hợp nhiễm giun móc trên toàn cầu, trong đó Châu Á 281,8 triệu chiếm 64,2% và Châu Phi 122,3 triệu chiếm 27,9% [62]. Khu vực Mỹ La Tinh có tỷ lệ nhiễm cũng khá cao. Vào những năm của thập niên thứ hai thế kỷ thứ XX, tại Paraguay tỷ lệ nhiễm là 98%. Năm 1987, ước tính khu vực này có khoảng 72 triệu người bị nhiễm giun móc/mỏ.
Gần đây, một nghiên cứu cắt ngang ở 192 người từ 35 gia đình ở Intagua, Paraguay từ 5 tháng đến 81 tuổi, cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 59%. Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi từ 19 đến 29, sau đó giảm dần; tuy nhiên, sự khác biệt giữa 2 giới là không có ý nghĩa thống kê [59]. Anne và CS (2008) nghiên cứu 1113 người ở độ tuổi từ 6 tháng đến 83 tuổi ở tiểu bang Minas Gerais, Đông Nam Brazil cho thấy tỉ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở mức cao 69,8% và nhiễm ở cường độ nhẹ, tỷ lệ nhiễm ở nam giới cao hơn nữ giới, trẻ em có tỷ lệ nhiễm thấp hơn các nhóm tuổi khác [50]. Tại Australia, một nghiên cứu được tiến hành vào năm 1992 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở cộng đồng thổ dân là 77%, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở lứa tuổi từ 5 - 14 (93%).
Nhiễm giun móc/mỏ là bệnh đặc hữu ở thổ dân trong cộng đồng này, và có thể góp phần làm tăng tỷ lệ thiếu sắt và thiếu máu ở người thổ dân, đặc biệt ở trẻ em và phụ nữ [54]. Điều tra tình hình nhiễm giun truyền qua đất được thực hiện vào năm 2003 ở 31 khu vực của Trung Quốc cho thấy có 129 triệu người bị nhiễm giun truyền qua đất trong đó có 39,3 triệu người bị nhiễm giun móc/mỏ. Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1997 một nghiên cứu được tiến hành ở 2 làng của Huyện Hejiang và Huyện Santai, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ở lứa tuổi trên 15, trong 310 người cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 87,6%, tăng nhẹ theo tuổi và nhiễm nặng là 22% đa số những người này nhiễm cả giun A. và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình nhiễm giun truyền qua đất và các yếu tố liên quan đến nhiễm giun móc/mỏ ở 1237 người bộ tộc Tamil Nadu, miền Nam Ấn Độ.
Tỷ lệ nhiễm giun móc là 38%, tăng dần theo 5 tuổi. Những người làm nông nghiệp, đặc biệt làm việc trong các trang trại có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao hơn những người không làm nông nghiệp [56]. Ở Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào từng nước: Năm 2013 một nghiên cứu được tiến hành ở miền Đông Indonesia kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ là 28% [66]. Tại Campuchia, một nghiên cứu được tiến hành ở bệnh viện Nhi đồng Angkor tỉnh Siem Reap, từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 9 năm 2011.372 mẫu phân thu được, có sự gia tăng về tỷ lệ trẻ em bị nhiễm giun móc/mỏ trong suốt 5 năm từ 5,1% - 30,3%, độ tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất 11 - 16 tuổi (34,8%), tuy nhiên không có sự khác biệt về giới tính [51].
Một nghiên cứu cắt ngang về tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở khu vực nông thôn được thực hiện tại 2 thôn và 18 làng của Huyện Lipis, bang Pahang, Malaysia (2014), tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ là 27,9% nhiễm cường độ nhẹ, bé trai có tỷ lệ nhiễm cao hơn bé gái tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa về thống kê; liên quan yếu tố nguy cơ: trẻ em không sử sụng hố xí, không uống nước sạch, không rửa tay trước khi ăn, đi chân trần có tỷ lệ nhiễm cao [49].V và các cộng sự tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ ở cộng đồng Tungsor, tỉnh Chachoengsao, phía Đông Bangkok, Thái Lan. Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ chung là 10,2% và có khác biệt đáng kể giữa các nhóm tuổi, đặc biệt nhóm tuổi trên 15. Singapore không khảo sát tỷ lệ nhiễm giun sán, vì nó không được coi là nguyên nhân gây ra các mối lo ngại về sức khoẻ cộng đồng [55], [67]. Tình hình nhiễm giun móc/mỏ ở Việt Nam Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển, với khí hậu nóng ẩm, điều kiện vệ sinh môi trường thấp kém là điều kiện cho các bệnh ký sinh trùng phát triển.
Việt Nam còn là nước nông nghiệp, có trên 80% dân số sống bằng nghề nông, nhiều phong tục, tập quán, thói quen chưa hợp vệ sinh. Do đó tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ khá cao. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm phân bố khác nhau tuỳ theo từng vùng, ở nông thôn nhiễm cao hơn thành thị; vùng trồng hoa màu nhiễm cao hơn vùng trồng lúa nước; công nhân hầm mỏ và trồng cây công nghiệp nhiễm cao hơn công nhân làm việc trong nhà máy. 6 Qua các kết quả điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương và các chuyên gia quốc tế năm 2006 ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ khoảng 22 triệu người (28,6%), các số liệu chứng minh tỷ lệ nhiễm bệnh này tại các tỉnh miền Bắc khoảng 60 - 70%, miền Trung là 55% và miền Nam là 40% [42].
Hoàng Văn Hội và cộng sự (2012) qua nghiên cứu thực địa tại 3 huyện với 6 xã vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế có tỷ lệ nhiễm giun chung là 28,68% trong đó giun móc/mỏ là 6,43% [11]. Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2013), nghiên cứu tình hình giun truyền qua đất ở đồng bào dân tộc tại các tỉnh Bình thuận, Quảng Nam, Phú Yên, Đắk Lắk thấy TLN giun móc/mỏ từ 14,82% đến 21,44%, trong đó TLN đồng bào K’Ho cao nhất 40,02%, lứa tuổi có TLN cao nhất là trên 60 tuổi (34,86%) [5]. Trần Thị Huệ Vân và cộng sự (2015), nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ và yếu tố liên quan của người dân tại tỉnh Tây Ninh năm 2012 kết quả nhiễm giun móc/mỏ là 30,7% chủ yếu là nhiễm cường độ nhẹ (93,07%) [40]. Trương Văn Hội (2015) tại Ninh Thuận cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ 25,1% đa phần nhiễm cường độ nhẹ [12].
Nguyễn Thu Hương và CS (2021) nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và định loài giun móc/mỏ trong cộng đồng tại tỉnh Bắc Giang năm 2021 kết quả nhiễm giun móc/mỏ là 2,9% chủ yếu là nhiễm cường độ nhẹ [15].