MỞ ĐẦU Cén sinh hoc (hay còn gọi là bioethanol) là một nhiên liệu xanh, khi cháy không gây ra khí phát thải nhà kính. Cồn sinh học được nghiên cứu và phát triển ở những thập kỷ gần đây để giải quyết vấn đề cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch. Nguồn nguyên liệu được nghiên cứu để sản xuất bioethanol là lignocellulose, chúng phô biến và có trữ lượng déi dào, đặc biệt rẻ tiền và không ảnh hưởng đến an ninh lương thực so với thế hệ thứ nhất (sử dụng nguyên liệu là gạo và tinh bột). Tuy nhiên, để chuyên hóa lignocellulose thành cồn sinh học cũng đầy thách thức, đó là vấn đề về thủy phân, thành phần lignin ngăn cản quá trình thủy phân bằng enzyme, vì vậy cần thêm quá trình tiền xử lý.
Tuy nhiên cần tìm phương pháp tiền xử lý phù hợp có thê đem lại hiệu quả loại bỏ lượng lớn lignin và chỉ phí thấp. Trong nghiên cứu này, sử dụng phương pháp tiền xử lý kết hợp cả hai phương pháp đơn lẻ: tiền xử lý acid và tiền xử lý bằng base. Nguyên liệu được sử dụng là mùn cưa gỗ cao su và rơm rạ. Hai nguồn nguyên liệu này rất phô biết ở Việt Nam, và giá thành rẻ.
Nghiên cứu để sử dụng cao su và rơm để chuyển hóa thành cồn sinh học không những có ý nghĩa trong sản xuất nhiên liệu sạch, chúng còn góp phần bảo vệ môi trường. Hằng năm một lượng lớn rơm và mùn cưa cao su không sử dụng sẽ bị đốt thải trực tiếp, gây ô nhiễm không khí. Ngoài nâng cao hiệu suất tiền xử lý, trong nghiên cứu này tìm hiểu về quy trình nạp nhiều lần enzyme, mang lại hiệu quả thủy phân lignocellulose cao hơn cho quá trình thủy phân và lên men đồng thời (SSF). Với việc nâng cao được hiệu xuất cho cả quá trình: quá trình tiền xử lý và quá trình SSF, sẽ nâng cao hiệu suất chuyển hóa bioethanol từ lignocellulose.
Bioethanol — tiém nang va giai phap cho van dé nang lwong 1. Nhu cầu về năng lượng Hiện nay, vấn đề về năng lượng là vấn đề được đặt ra cho hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển hoặc đang phát triển. Năng lượng có tầm quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia, là động lực để phát triển ngành công nghiệp, giao thông và các ngành nghề liên quan khác. Với sự phát triển ngày càng nhanh thì nhu cầu năng lượng lại càng tăng cao.
Trong một báo cáo gần đây của T. Zhang, nghiên cứu về năng lượng tiêu thụ của thế giới trong hai thập kỷ vừa qua (hình 1.1) cho thấy, sự tăng đáng kê của nhu cầu năng lượng trên toàn thế giới, với 20 năm nhu cầu sử dụng tăng từ 9000 Mtoe/năm lên đến 14000 Mtoe/năm năm 2018 [1]. Sự tăng này là liên tục, theo xu hướng và độ dốc của đồ thị, có thể dễ dàng dự đoán chúng vẫn còn tăng trong tương lai. 1 11000 y BRICS is Large shift in — 100004 |—* Europe) a att load consumption ®.
† lãng ugevrcesxissereastbesnssildaxsssssgred Õ 9000 oe" : ~ oe §€€©00000000600000006060006000600060000000006 = 280004 A ww 7000 Similar trend 6000 + 8 TT cac NL atte aga aera SA oo aa 5000 -“.epp9 4000 + CA AAAA^AA^A^^^^^*^KỄAAAAAAA* 3000 gt? vvv" 2000 + ee cece eeeerceecseseeo' 1000 7 Ỷ Ỷ 7 Ỷ 7 02 192 92% a8 200 2087 200% 209 got? gor? gor? qot® Years Hình 1.1 Nhu cầu tiêu dùng năng lượng của thế giới từ 1990 đến 2020. Mặt khác, các nhà nghiên cứu khoa học đã đưa ra các cảnh báo về sự thiếu hụt năng lượng của thế giới trong vài thập kỷ tới đây [2]. Dầu thô, than đá và khí đốt là những nguồn cung cấp năng lượng chính cho thế giới. Nguồn nhiên liệu hóa thạch và năng lượng không tái tạo đứng trước nguy cơ cạn kiệt.
Theo nghiên cứu của S. Topal, sử dụng công thức mới được sửa đổi từ mô hình Klass, giả định tỷ lệ hỗn hợp liên tục đã dự đoán thời gian cạn kiệt dự trữ nhiên liệu hóa thạch cho dầu, than và khí đốt lần lượt là 35, 107 và 37 năm. Điều này có nghĩa là trữ lượng than có sẵn đến năm 2112 và sẽ là nhiên liệu hóa thạch có thể cạn kiệt vào năm 2042 [3]. Dưới đây là bảng dự đoán về trữ lượng tính theo năm của các nhiên liệu hóa thạch [4].
Bảng 1 Dự đoán trữ lượng còn lại của một số nhiên liệu hóa thạch. (Nguồn WEO 2006 report) Mô hình Klass Mô hình mới Nhiên liệu Dầu Than Khí gas Dầu Than Khi gas Năm 34 106 36 36 107 37 Trước nguy cơ về sự thiếu hụt về năng lượng cần có một nguồn năng lượng mới thay thế và bền vững hơn để đảm bảo an ninh năng lượng và sự phát triển của toàn câu. Năng lượng tái tạo và xu thế năng lượng của thế giới Thách thức về năng lượng là thách thức của toàn cầu nói chung và của ngành khoa học và công nghệ nói riêng. Giải pháp được đưa ra là năng lượng tái tạo, đây là hướng nghiên cứu của các nhà khoa học và các nước trên thế giới hiện tại để giải quyết vấn đề trên.
Năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng từ tự nhiên như gió, nước, mặt trời hoặc có thể do con người tạo ra: nhiên liệu sinh học, điện hóa học,. vả có thể tái sử dụng nhiều lần và có tính bền vững [5]. Các nước trên thế giới đều coi đây là một giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề năng lượng. Một báo cáo của IEA (Internation Energy Ageney) đã nghiên cứu sự thay đổi về sản xuất và sử dụng của các nước trên thế giới và đồng thời cũng dự đoán tiềm năng sử dụng của các nguồn năng lượng khác nhau [6].
Coal @ Oil Gas @ Renewables Nuclear Hình 1.2 Dự báo về nhu cầu năng lượng của thé gidi nam 2019 dén 2030. Theo báo cáo cho thấy, một xu hướng chuyên dịch rõ ràng khi độ dốc tăng trưởng của năng lượng tái tạo là cực kì lớn, thế giới ngày càng nhận ra tầm quan trọng của năng lượng tái tạo và hiệu quả nó đem lại không những đối với nhu cầu năng lượng, năng lượng tái tạo cũng là giải pháp cho vấn đề môi trường khi thế giới đang đối mặt với các vấn đề như: ảnh hưởng nhà kính, nóng lên toàn cầu, ô nhiễm môi trường,. Bioethanol một giải pháp năng lượng bền vững Trong các nguồn năng lượng tái tạo, được hỗ trợ nghiên cứu rộng rãi và áp dụng nhiều vào thực tiễn gần đây phải kể đến là bioethanol. Nhiên liệu sinh hoc bioethanol là một sản phẩm lên men, có thê từ tỉnh bột hoặc từ đường sử dụng các vi sinh vật lên men hiém khí hoặc ky khí, sản phẩm sinh ra là ethanol và khí cacbon dioxide [7].
Bioethanol sản xuất đơn giản, từ ngày xưa đến nay con người đã biết cách lên men hoa quả để chế biến thành thức uống chứa cồn. Các sản phẩm quá trình lên men không thê sử dụng làm nhiên liệu bởi vì nồng độ ethanol không cao và còn lại chủ yếu là nước, không thể tham gia phản ứng cháy đề sinh ra nhiệt. Khi cháy, nhiệt sinh ra là lượng nhiệt có ích có thể sử dụng trực tiếp hoặc cung cấp năng lượng làm quay tuabin nước hoặc tuabin hơi, năng lượng của ethanol (CzHzOH) là 29,67 kJ/kg gần bằng với than đá (C), là 32,8 kJ/kg [8]. Vì vậy để cháy được, cần có quá trình chưng cất dịch sau lên men để làm tăng nồng độ ethanol có trong sản phẩm, thông thường nồng độ ethanol cuối của quá trình chưng cất thường đạt trên 90% thê tích.
Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu được nhà nước tài trợ để nghiên cứu về bioethanol và có rất nhiều nhà máy được xây dựng và đi vào hoạt động: nhà máy ethanol Đại Lộc (Quảng Nam), nhà máy Cư Jút (Đắk Nông), nhà máy Tam Nông (Phú Thọ), nhà máy ethanol Dung Quốc và nhà máy ethanol Bình Phước. Các nhà máy đã đi vào hoạt động và sản xuất được ra thành phẩm. Trong quá trình hoạt động vì chưa nghiên cứu một cách hệ thống và kỹ lưỡng thì các nhà máy trên gặp các vấn đề kỹ thuật và môi trường dẫn tới việc tạm phải đóng cửa nhà máy. Các vẫn đề gặp phải trong quá trình sản xuất ethanol sẽ được đề cập trong các phần tiếp theo.
Sản xuất ethanol tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung có triển vọng đầy hứa hẹn. Tuy nhiên để đạt được các bước tiến quan trọng cần vượt qua các thách thức và cần tiếp tục nghiên cứu một các chuyên sâu và nghiêm túc hơn.3 Hình ảnh một số nhà máy sản xuất bioethanol tại Việt Nam. Các thế hệ sản suất bioethanol Để sản xuất bioethanol, nguyên liệu được sử dụng phần lớn là từ tỉnh bột và mía đường. Tại đây có thể sử dụng quá trình lên men trực tiếp đối với mía đường khi chuyển đường glucose hoặc saccharose có trong mía đường thành bioethanol: VSV Lên men CạH¿Os ———————— C;H;OH + CO, Đối với tinh bột thì sẽ được thủy phân đề tạo thành glucose va fructose, Cầu trúc tĩnh bột là một mạch poly saccharide mạch thẳng hoặc mạch nhánh, gồm cac a- Glulcose lién kết với nhau bằng liên két a-1,4 — Glylcosidic hoac a-1,6 — Glylcosidic các liên kết này có thé dé dang bị thủy phân bằng acid hoặc enzyme amilase: H* (CạHoOạ)n — +HạO CaHzOa + CeHazOs 0, ức Glucose Frutose Mặt dù quy trình sản xuất đơn giản và hiệu quả cao, tuy nhiên sản xuất bioethanol từ nguyên liệu tỉnh bột và đường mía gặp rất nhiều bất cập.
Nguồn nguyên liệu là nguồn lương thực và thực phâm cho người, nên việc sử dụng thức ăn để làm nhiên liệu là không hợp với đạo đức cho phép. Vì vậy cần tìm hiểu nghiên cứu một nguyên liệu có khả năng chuyên hóa thành ethanol và không ảnh hướng đến an ninh lương thực. Quá trình cải tiến của sản xuất ethanol cũng được dựa trên nguyên nhân này. Có ba thế hệ sản xuất bioethanol.
Thế hệ thứ nhất là sử dụng nguồn tinh bột vừa nêu phần trên. Thế hệ thứ hai có thay đôi về nguyên liệu và quy trình. Sự thay đổi về quy trình để cho phù hợp với nguyên liệu sản xuất. Ở thế hệ thứ hai nguyên liệu chính sản xuất bioethanol là lignocellulose.
Với thành phần chính trong cấu trúc là cellulose, celluose có cấu trúc gần giống với tinh bột, nhưng các mono saccharide là liên kết với nhau bằng liên kết B-1,4 glycosidic va B-1,6 glylcosidic, vì vậy nó có cấu trúc vật liệu phức tạp hơn. Chưa dừng lại tại đó, ngoài cellulose, lignocellulose còn chứa hai thành phần có hàm lượng lớn khác là hemicellulose và lignin. Hemicellulose có khả năng chuyển hóa thành bioethanol nếu sử dụng các chủng vi sinh vật lên men đường 5C.