Chương 1: Giới thiệu – Trình bày lý do hình thành đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở tổng quan nghiên cứu – Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết, từ đó hình thành các đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Nêu lên trình tự nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, bao gồm xây dựng thang đo, thiết kế bảng khảo sát, phương pháp lấy mẫu Chương 4: Kết quả nghiên cứu – Trình bày kết quả kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định và kiểm định giả thuyết bằng mô hình SEM. Chương 5: Kết luận – Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu đối với doanh nghiệp, các cơ quan chức năng và những hạn chế của nghiên cứu, để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
8 Chương 2: CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Sản phẩm xanh Sản phẩm xanh là sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây hại cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, không gây ô nhiễm trên trái đất này, có thể tái chế hoặc bảo tồn (Vazifehdoust và ctg, 2013). Sản phẩm xanh là sản phẩm cung cấp lợi ích cho môi trường (Terra Choise, 2010). Giá của sản phẩm xanh thường cao hơn giá sản phẩm thông thường có chất lượng và tính năng tương tự.
Do đầu tư trang thiết bị máy móc vận hành, sản xuất, sử dụng các ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, dùng nguồn nguyên vật liệu đầu vào thân thiện với môi trường… nên chi phí tạo ra sản phẩm xanh cao hơn các sản phẩm thông thường. Đây có thể xem là một phần khoản phí thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường. Túi ni lông Theo Lê Đức Giang (2016)1, túi ni lông được làm từ các nguyên liệu khác nhau nhưng chủ yếu được sản xuất từ hạt nhựa polyetilen (PE) và polypropilen (PP) có nguồn gốc từ dầu mỏ cùng với một số hóa chất phụ gia khác. Nhựa polyetylen dùng để sản xuất túi ni lông thường có hai loại: Polyetylen tỷ trọng thấp (Low Density Polyethylene-LDPE) và polyetylen tỷ trọng cao (High Density Polyethylene-HDPE).
HDPE thường dùng để sản xuất loại túi ni lông có độ trong, độ bóng bề mặt ở mức độ trung bình, độ mềm dẻo kém, có độ cứng nhất định, dễ gập nếp, tạo ra tiếng động xột xoạt rõ ràng khi cọ xát (nên thường gọi là túi xốp). Túi xốp HDPE thường gặp là túi đựng rác, túi ni lông đựng hàng chợ, túi siêu thị và cửa hàng nhỏ. Túi ni lông làm màng LDPE có độ trong, bề mặt mịn, bóng hơn so với túi xốp HDPE. Nhờ độ dẻo dai, mịn màng hơn, nên giá thành sản xuất túi cao hơn so với 1 PGS.
Lê Đức Giang - Khoa Hóa học, Trường ĐH Vinh.vn/hoa-hoc-va- doi-song/seo/mot-so-cau-hoi-thuong-gap-ve-tui-nilon-trong-cuocs-song-71559 9 túi HDPE, nhưng chất lượng túi ni lông sẽ tốt hơn. Túi LDPE thường gặp là các loại túi PE khổ lớn, dùng để đựng hàng hóa có trọng lượng tương đối, thường in quảng cáo sản phẩm, in logo, thương thiệu cho các doanh nghiệp. Túi ni lông làm từ nhựa PP có độ bền cơ học cao hơn, khá cứng, nên không mềm dẻo, khó bị kéo giãn dọc như nhựa HDPE hay LDPE. Đặc biệt, túi PP có độ mịn, bóng bề mặt cao, sức bền cơ lý tốt hơn.
Ngoài ra, vật liệu PP có khả năng chống thấm khí, thấm nước, nên thường dùng làm túi đựng thực phẩm, bảo quản hàng hóa, hoặc màng chít pallet bọc hàng hóa - thực phẩm. Khi sản xuất túi ni lông, người ta phải sử dụng các hóa chất phụ gia như phẩm màu, kim loại nặng (chì, cadimi,.đều là những chất gây nguy hiểm tới sức khỏe của con người. Ở nhiệt độ 70-80oC, phụ gia độc hại chứa trong túi ni lông sẽ hòa tan vào thực phẩm. Trong đó, một số chất hóa dẻo có thể làm tổn thương và thoái hóa thần kinh ngoại biên và tủy sống; gây độc cho tinh hoàn và gây một số dị tật bẩm sinh nếu thường xuyên tiếp xúc với chúng.
Do vậy, để giảm thiểu tối đa tác hại của túi ni lông nguời sử dụng cần hạn chế sử dụng túi ni lông thông thuờng bằng cách sử dụng túi dùng nhiều lần và có khả năng phân hủy sinh học khi đi mua hàng; không nên dùng túi ni lông rẻ tiền, có màu để đựng thực phẩm, đặc biệt là không được dùng để đựng thực phẩm nóng, có vị chua. Sau khi sử dụng xong không được tự ý đốt hay chôn lấp mà phải phân loại riêng túi ni lông để công ty môi trường thu gom và tiêu hủy theo quy định. Trong tài liệu tập huấn “Tăng cường kiểm soát sử dụng và thải bỏ túi ni lông” của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM năm 2015 đề cập túi ni lông (hay túi xốp) là từ thông dụng được dùng để chỉ loại bao bì nhựa mỏng có quai xách thường được dùng để chứa đựng hàng hóa. Túi ni lông được sản xuất từ nhựa polyethylene có nguồn gốc từ dầu mỏ và do đó quá trình tự phân hủy của nó diễn ra rất chậm.
Túi ni lông mỏng đựng hàng (như đang sử dụng hiện nay) được chế tạo lần đầu tiên vào những năm 1960, được sử dụng lần đầu tiên tại các siêu thị (ở Mỹ) vào năm 1977 và bắt đầu được sử dụng phổ biến tại các hệ thống bán lẻ trên thế 10 giới, thay thế các loại túi giấy vào những năm 1980. Sự ra đời của túi ni lông đã mang lại nhiều tiện lợi, nhất là trong việc bao gói hàng hóa và do đó túi ni lông nhanh chóng thay thế các phương tiện bao gói, chứa đựng hàng hóa truyền thống như lá chuối, lá sen, lá dong, túi giấy, làn nhựa với mức độ tiêu thụ không ngừng tăng nhanh trên toàn thế giới. Tuy nhiên, không lâu sau đó, các nước trên thế giới cũng nhanh chóng nhận ra chính những ưu điểm của túi ni lông cùng với việc sử dụng quá mức và thải bỏ không đúng cách của chúng ta đã dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng cho môi trường. Túi tự hủy Vũ Tiến Trung và Lê Đức Anh (2015) đã thực hiện một báo cáo về các sáng chế túi nhựa phân hủy sinh học.
Tinh bột, công thức phân tử (C6H10O5)n là nguồn nguyên liệu vô tận cho ngành hóa học. Tinh bột được sử dụng ở dạng nguyên thủy hay biến tính. Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp như công nghiệp giấy, dệt, kỹ nghệ chế tạo vật liệu bản mỏng và sóng, kỹ nghệ keo dán, bao bì,. Trong những năm gần đây, tinh bột là một trong những thành phần quan trọng để tạo ra các loại bao bì, màng polymer tự phân hủy làm màng bao không thấm dầu… JP2002179079A (nộp đơn 26/06/2002 của Toyo Ink MFG Co): Túi làm từ nhựa phân hủy sinh học giảm ô nhiễm môi trường.
Điểm mới: Túi được phủ một lớp nhựa phân hủy sinh học và một lớp in có chứa kẽm như thành phần kết dính. Một loại màu nhóm chlorophyllin được phủ trên mặt ngoài của túi. KR2006008232A (nộp đơn 26/01/2006 của Yun Dong Hyun): Giỏ mua hàng làm từ nhựa phân hủy sinh học giúp giảm ô nhiễm môi trường. GB2455599 (A) (nộp đơn 17/06/2009 của Page Richard và Robinson Keith): Một loại túi làm từ nhựa phân hủy sinh học và giấy.
CN104194289A (nộp đơn 10/12/2014 của Zhejiang Bohai Hygienic Products Co Ltd): cấu tạo vật liệu của túi nhựa phân hủy sinh học từ một số chất như: 5-25% polylactic acid, 43-48% poly-terephthalic acidco-butadiene polybutylene terephthalate glycol ester, 15- 30% 3-hydroxy-butanoic acid ester,… 11 tất cả tạo nên độ cứng, bền, dai và thân thiện với môi trường. Túi ni lông tự hủy sinh học là một loại sản phẩm xanh được xem xét là sản phẩm được làm từ nguồn nguyên liệu hữu cơ (bột bắp, bột mì) dưới tác động của vi sinh vật, bao bì sẽ chuyển hóa thành những chất hữu cơ đơn giản, dễ hòa tan hoặc tự hủy thành khí carbonic và nước, không gây ô nhiễm môi trường. Túi sinh thái là một loại sản phẩm xanh được làm từ chất liệu thân thiện với môi trường ví dụ như vải bố, vải gai, vải đay, vải cối, mây tre… không sử dụng thuốc tẩy trắng hay hóa chất tạo màu, tạo điều kiện cho việc dễ dàng giặt giũ và tái sử dụng nhiều lần (Phạm Trần Hạnh Thi, 2013). Bài nghiên cứu này xem xét túi tự hủy là một trong các sản phẩm xanh, là các loại túi thân thiện với môi trường như túi ni lông tự hủy sinh học, túi được phủ một lớp nhựa phân hủy sinh học, túi sinh thái … có tác động làm giảm, hạn chế sự ảnh hưởng tới môi trường (nước, không khí và đất) và các sản phẩm túi không gây hại hoặc tốt cho sức khỏe cộng đồng.
Tiêu dùng túi tự hủy Rất nhiều định nghĩa tiêu dùng xanh từ các nghiên cứu trước đây và chưa có sự thống nhất, tùy thuộc đối tượng và lĩnh vực khác nhau sẽ có cách tiếp cận khác nhau, có thể nói phần lớn tiêu dùng xanh là thể hiện vai trò tiêu dùng trong việc bảo vệ môi trường, trong đó có tiêu dùng túi tự hủy. Tiêu dùng túi tự hủy như là chuỗi hành vi có mục đích của một cá nhân, bao gồm hành vi mua sản phẩm, sử dụng sản phẩm túi tự hủy theo tiêu chí 3T “Tiết giảm, Tái sử dụng, Tái chế” (Vũ Anh Dũng và ctg, 2012). Tiêu dùng túi tự hủy là việc mua, sử dụng và tuyên truyền sản phẩm thân thiện với môi trường mà không gây nguy cơ cho sức khỏe con người và không đe dọa các chức năng và sự đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2016). Tiêu dùng túi tự hủy là hành vi mua sắm sản phẩm túi tự hủy, không gây hại cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, mục đích cuối cùng là tiêu dùng bền vững và phát triển đất nước.
Theo Quyết định số 1339/QĐ-Ttg “Quyết định phê duyệt chiến lược Quốc 12 gia về tăng trưởng xanh” ký ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ có đề cập đến tiêu dùng bền vững là việc sử dụng hàng hóa dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản và nâng cao chất lượng cuộc sống trong khi sử dụng ít hơn tài nguyên thiên nhiên và các chất độc hại, đồng thời giảm chất thải và chất gây ô nhiễm trong chu trình sống và không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau. Theo Strong (1996), người tiêu dùng xanh là người tiêu dùng tránh sử dụng các sản phẩm có khả năng gây hại đến sức khỏe của con người, hay gây thiệt hại đến môi trường trong qui trình sản xuất, sử dụng. Người tiêu dùng xanh bao hàm cả những người tiêu dùng túi tự hủy.