Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị với đề tài "Nghiên cứu các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long" được nghiên cứu sinh Huỳnh Kim Thừa thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Phú Trần Tình.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ quy luật quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong nông nghiệp Việt Nam, lực lượng sản xuất đang phát triển theo hướng xã hội hóa tư liệu sản xuất và công cụ lao động, đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thay đổi trên cả ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm. Thực tiễn cho thấy phương thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ của kinh tế hộ không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển, trong khi các hợp tác xã nông nghiệp chưa thu hút được đông đảo nông dân tham gia. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị thế trọng điểm kinh tế nông nghiệp của cả nước với diện tích đất trồng lúa hơn 3,2 triệu ha, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 65% sản lượng thủy sản (tôm, cá tra) xuất khẩu và 70% sản lượng trái cây xuất khẩu. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg mở đường cho tiêu thụ nông sản qua hợp đồng và tiếp đó là các chủ trương như Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017, Quyết định số 234/QĐ-TTg năm 2020, Quyết định số 150/QĐ-TTg năm 2022 và Nghị quyết số 13-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị, nông nghiệp vùng vẫn đứng trước thách thức lớn về biến đổi khí hậu, dịch bệnh và hội nhập. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào bao quát đồng thời bốn mô hình liên kết kinh tế điển hình dưới góc độ chuyển biến quan hệ sản xuất của chuyên ngành Kinh tế chính trị.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:

  • Mục tiêu chung: Vận dụng lý thuyết về liên kết kinh tế trong nông nghiệp để phân tích thực tiễn hoạt động của các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL nhằm tìm giải pháp khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong các mô hình này, đồng thời đề xuất mô hình liên kết kinh tế mới phù hợp với bối cảnh hiện nay.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL.
    2. Phân tích thực trạng hoạt động, đánh giá những tác động tích cực, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong các mô hình này đối với việc chuyển biến quan hệ sản xuất trong nông nghiệp ở ĐBSCL.
    3. Đề xuất các nhóm giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp dựa trên đánh giá thực trạng hoạt động của các mô hình này và bối cảnh của ĐBSCL.
    4. Đề xuất mô hình liên kết kinh tế mới phù hợp với điều kiện mới của nông nghiệp ĐBSCL hiện nay.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm ba câu:

  1. Các mô hình liên kết kinh tế có tác động tích cực cũng như tồn tại những hạn chế nào và nguyên nhân của các hạn chế là gì?
  2. Cần có các giải pháp nào để thúc đẩy sự phát triển các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL?
  3. Mô hình mới nào cần xây dựng để đạt được hiệu quả trong liên kết kinh tế ở ĐBSCL trong thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL, bao gồm: mô hình tổ hợp tác, mô hình cánh đồng lớn, mô hình chuỗi giá trị và mô hình hội quán nông dân.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba mặt của quan hệ sản xuất (sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm) nhằm đánh giá sự chuyển biến từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ lên sản xuất hàng hóa lớn và kinh tế tập thể.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL. Khảo sát nông dân thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Riêng mô hình hội quán nông dân được khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp. Nghiên cứu trường hợp điển hình thực hiện phỏng vấn sâu tại các địa bàn cụ thể đại diện cho từng mô hình.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng tổ hợp tác giai đoạn 2001 - 2021 (cả nước) và 2016 - 2021 (ĐBSCL); cánh đồng lớn giai đoạn 2011 - 2020; chuỗi giá trị giai đoạn 2013 - 2021; hội quán nông dân giai đoạn 2016 - 2022. Đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu khái quát lý thuyết về liên kết kinh tế. Đỗ Thị Kim Anh (2014) hệ thống hóa lý luận liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ĐBSCL, phân tích kinh nghiệm Thái Lan. Hoàng Mạnh Hùng (2014) làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển liên kết nông nghiệp giữa Hà Nội với các tỉnh phụ cận. Đỗ Thị Nga và Lê Đức Niêm (2016) nghiên cứu liên kết nông dân - doanh nghiệp trong ngành hàng cà phê Tây Nguyên. Nguyễn Thanh Phương (2020) phân tích bản chất, đặc trưng và động lực liên kết doanh nghiệp với nông hộ trồng cây công nghiệp dài ngày tại Đắk Lắk.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về phân loại liên kết kinh tế. Về liên kết dọc và ngang, Min Zhang (2016) tại Trung Quốc nhấn mạnh tổ chức nông dân liên kết ngang là cấu trúc quản trị giúp hộ nhỏ tiếp cận thị trường. Về liên kết dọc sản xuất - tiêu thụ, có các công trình của Nguyễn Xuân Dũng (2007), Nguyễn Văn Sánh và cộng sự (2011) tại An Giang, Nguyễn Tuấn Sơn (2012) tại Hòa Bình, Nguyễn Phú Son (2013) tại Kiên Giang, Hoàng Vũ Quang (2017) qua dự án Better Rice Initiative Asia, Nguyễn Thị Dương Nga (2017) tại Ninh Bình, Trần Cao Úy (2017) tại Thừa Thiên Huế, và Nguyễn Thị Vân (2018) tại Bến Tre. Về liên kết dọc sản xuất - chế biến - tiêu thụ, có Lê Văn Nhỏ và cộng sự (2012) về cá tra và tôm sú ĐBSCL, Đặng Huyền Trang (2018) về cà phê Sơn La. Về liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, Hồ Quế Hậu (2012) khảo sát mô hình Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn; Đàm Quang Thắng (2021) phân tích kinh doanh nông nghiệp ở Hà Nội; Võ Duy Khương (2014) nghiên cứu tại Đà Nẵng. Về liên kết bốn nhà, Đinh Quang Hải (2007) vận dụng lý thuyết liên minh công - nông - trí; Nguyễn Thị Kim Chi và Đoàn Thị Thu Hà (2013), Võ Hữu Phước (2014) tại Trà Vinh, Ma Ngọc Ngà (2015) với mô hình Công ty Bảo vệ thực vật An Giang. Về canh tác theo hợp đồng, Reardon (2000), Sukhpal Singh (2002), Eaton và Andrew (2001), Shepperd (2001), Suebpongsang (2021) phân tích khía cạnh tổ chức thị trường; trong khi Ashok B. Sharma (2006) và Key (1994) nhìn nhận dưới góc độ kinh tế chính trị về sự thâm nhập của tư bản vào nông nghiệp.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu theo từng mô hình cụ thể. Về tổ hợp tác: Đào Văn Toàn (2010), Ninh Văn Hiệp (2011), Trần Quốc Nhân và cộng sự (2012) tại Cần Thơ, Oxfam (2015) tại ba tỉnh Ninh Bình, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Lê Thị Minh Châu và cộng sự (2016) tại Bắc Giang. Về cánh đồng lớn: Đỗ Kim Chung (2012), Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến (2012), Phước Minh Hiệp (2013), Trần Văn Hiếu (2013), Chu Văn Cấp và Lê Xuân Tạo (2013), Lê Quốc Thanh và cộng sự (2016), Phạm Đỗ Thắng và cộng sự (2016), Trần Hoàng Hiểu (2019). Về chuỗi giá trị: John Humphrey (2005), Rozhan Abu Dardak (2015), Raoul Herrmann và cộng sự (2018), Nguyễn Quốc Thịnh (2009), Nguyễn Việt Long và Trần Đức Viên (2016), Võ Thị Thanh Lộc (2016), Võ Thành Danh và cộng sự (2016), Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2019). Về hội quán nông dân: Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Tháp (2019), Bùi Văn Huyền (2019, 2021), Lê Văn Tuyên (2021), Trần Hoàng Hiểu và Lê Minh Đồng (2021), Trần Lê Sơn Trà (2019).

Thứ tư, nhóm nghiên cứu về vai trò và các yếu tố ảnh hưởng. Asep Suryahadi và cộng sự (2006), P. Venkatesh và cộng sự (2017), Pratap S. Jha và Harvinder Singh (2007), Hồ Thanh Thủy (2017) chỉ ra vai trò nâng cao thu nhập; Hoàng Minh Huy và Hoàng Vũ Quang (2019) chứng minh liên kết SRP bảo vệ sức khỏe và môi trường; Vũ Thành Tự Anh và cộng sự (2011), Mai Văn Quyền (2010) bàn về năng lực cạnh tranh. Về các yếu tố ảnh hưởng, các tác giả phân tích: khả năng tiếp cận thị trường (La Nguyễn Thùy Dung và Mai Văn Nam 2015; Nguyễn Đăng Học và cộng sự 2017; Nguyễn Thị Vân 2018); chất lượng và tính bền vững (Đặng Đình Long 2015; Hồ Quế Hậu 2015); nhu cầu hộ gia đình (Stephen J. Vogel 1994); thái độ với chế biến nông sản (Seung-Yong Gouk 2012); diện tích đất đai manh mún (Đỗ Hoài Nam 2017).

Vấn đề nghiên cứu Tác giả tiêu biểu được luận án tổng lược
Lý thuyết liên kết kinh tế Đỗ Thị Kim Anh (2014), Hoàng Mạnh Hùng (2014), Đỗ Thị Nga và Lê Đức Niêm (2016), Nguyễn Thanh Phương (2020)
Phân loại liên kết dọc, liên kết ngang và liên kết bốn nhà Min Zhang (2016), Nguyễn Xuân Dũng (2007), Nguyễn Văn Sánh và cs (2011), Đinh Quang Hải (2007), Võ Hữu Phước (2014), Ma Ngọc Ngà (2015)
Nông nghiệp theo hợp đồng Reardon (2000), Sukhpal Singh (2002), Key (1994), Ashok B. Sharma (2006), Eaton và Andrew (2001), Suebpongsang (2021)
Mô hình Tổ hợp tác Đào Văn Toàn (2010), Ninh Văn Hiệp (2011), Trần Quốc Nhân và cs (2012), Oxfam (2015), Lê Thị Minh Châu và cs (2016)
Mô hình Cánh đồng lớn Đỗ Kim Chung (2012), Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến (2012), Phước Minh Hiệp (2013), Chu Văn Cấp và Lê Xuân Tạo (2013), Trần Hoàng Hiểu (2019)
Mô hình Chuỗi giá trị John Humphrey (2005), Rozhan Abu Dardak (2015), Raoul Herrmann và cs (2018), Võ Thị Thanh Lộc (2016), Võ Thành Danh và cs (2016), Nguyễn Trung Kiên và cs (2019)
Mô hình Hội quán nông dân Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Tháp (2019), Bùi Văn Huyền (2019, 2021), Lê Văn Tuyên (2021), Trần Hoàng Hiểu và Lê Minh Đồng (2021), Trần Lê Sơn Trà (2019)
Vai trò và nhân tố tác động Asep Suryahadi và cs (2006), P. Venkatesh và cs (2017), Pratap S. Jha và Harvinder Singh (2007), Hoàng Minh Huy và Hoàng Vũ Quang (2019), Stephen J. Vogel (1994), Seung-Yong Gouk (2012), Đỗ Hoài Nam (2017)

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình đã công bố chỉ tiếp cận đơn lẻ một mô hình hoặc khảo sát kỹ thuật, thương mại của một ngành hàng. Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu bao quát cả bốn mô hình liên kết kinh tế (tổ hợp tác, cánh đồng lớn, chuỗi giá trị, hội quán nông dân) tại ĐBSCL dưới góc độ Kinh tế chính trị, làm sáng tỏ bản chất chuyển biến quan hệ sản xuất trên cả ba mặt sở hữu, tổ chức - quản lý và phân phối trong tiến trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng luận cứ dựa trên:

  • Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; lý luận về hợp tác hóa nông nghiệp và xây dựng liên minh công - nông - trí thức.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, liên kết nông dân với các thành phần kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
  • Các lý thuyết kinh tế hiện đại: lý thuyết phân công lao động xã hội của Adam Smith, lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter, cách tiếp cận chuỗi giá trị của GTZ và chuỗi ngành hàng, lý thuyết nông nghiệp hợp đồng.
  • Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả liên kết kinh tế trong nông nghiệp: Luận án xác lập khung tiêu chí đánh giá dựa trên sự chuyển biến của ba cấu thành quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm) kết hợp với các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (chi phí, doanh thu, lợi nhuận), mức độ ứng dụng khoa học công nghệ và tính bền vững.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp logic - lịch sử để nhận diện bản chất kinh tế chính trị của các mô hình liên kết. Các phương pháp thu thập và xử lý cụ thể gồm: phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến các nhà khoa học và cán bộ quản lý nông nghiệp; phương pháp nghiên cứu tình huống và phương pháp phỏng vấn sâu đối với đại diện hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp kỹ thuật thống kê mô tả. Tác giả thực hiện khảo sát đối với 1.000 chủ hộ sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL tham gia các mô hình liên kết để tính toán giá trị trung bình của thang đo và mô tả cơ cấu mẫu.

Về nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo, số liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh ĐBSCL, cùng các văn bản thể chế, pháp lý của Đảng, Chính phủ và các công trình khoa học đã công bố.
  • Dữ liệu sơ cấp: Bộ dữ liệu khảo sát 1.000 hộ nông dân tại ĐBSCL và các biên bản phỏng vấn sâu các tác nhân tham gia mô hình cánh đồng lớn, chuỗi giá trị và hội quán nông dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp

Chương này tập trung lược khảo hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về liên kết kinh tế trong nông nghiệp theo bốn nhóm chủ đề: lý thuyết đại cương, phân loại liên kết (theo hướng liên kết ngang - dọc, theo hợp đồng, theo mô hình), vai trò của liên kết và các nhân tố ảnh hưởng. Luận án phân tích đóng góp của từng tác giả, đúc kết các bài học kinh nghiệm về liên kết bốn nhà, canh tác theo hợp đồng và chuỗi giá trị. Trên cơ sở Bảng 1.1 tổng hợp các nghiên cứu, tác giả xác định rõ giá trị kế thừa về mặt phương pháp, đồng thời làm rõ khoảng trống khoa học: thiếu vắng công trình nghiên cứu tổng hợp bốn mô hình liên kết kinh tế tại ĐBSCL dưới góc độ quan hệ sản xuất của chuyên ngành Kinh tế chính trị.

Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn về các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp

Chương 2 luận giải các khái niệm cơ bản về liên kết kinh tế trong nông nghiệp, phân loại liên kết và nhận diện các yếu tố tác động. Tác giả xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả của các mô hình liên kết kinh tế gắn liền với ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý sản xuất, và phân phối sản phẩm. Ở phần thực tiễn, chương này trình bày cơ sở hình thành và thực trạng hoạt động chung của các mô hình liên kết kinh tế tại Việt Nam từ sau Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, phản ánh bước đầu hình thành các chuỗi liên kết nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ chế chia sẻ rủi ro và khung khổ pháp lý.

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 3 trình bày phương pháp tiếp cận và sơ đồ quy trình nghiên cứu (Hình 3.1) cùng khung phân tích của luận án (Hình 3.3). Tác giả mô tả chi tiết việc kết hợp các phương pháp định tính (duy vật biện chứng, trừu tượng hóa khoa học, logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, chuyên gia, nghiên cứu tình huống, phỏng vấn sâu) và phương pháp định lượng (thống kê mô tả). Chương này mô tả nguồn dữ liệu thứ cấp và quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát 1.000 chủ hộ sản xuất nông nghiệp, phản ánh qua Bảng 3.1 về giá trị trung bình thang đo và Bảng 3.2 về mô tả thông tin chung của đáp viên.

Chương 4: Thực trạng hoạt động của các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL

Chương 4 là chương trọng tâm của luận án, mở đầu bằng việc khái quát tổng quan kinh tế - xã hội và nông nghiệp ĐBSCL (Hình 4.1, Hình 4.2). Nội dung đi sâu phân tích kết quả hoạt động của bốn mô hình:

  • Mô hình Tổ hợp tác: Trình bày số liệu THT nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2021 của cả nước (Bảng 4.1) và so sánh ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2021 (Hình 4.3), phân loại theo ngành nghề năm 2021 (Hình 4.4).
  • Mô hình Cánh đồng lớn: Số liệu cánh đồng lớn và diện tích ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm năm 2016 (Bảng 4.2), tỷ lệ diện tích gieo sạ theo cánh đồng lớn giai đoạn 2011 - 2020 (Hình 4.5), chi phí sản xuất trung bình vụ Đông Xuân 2015 - 2016 và vụ Hè Thu 2016 (Bảng 4.3), cùng doanh thu và lợi nhuận tương ứng (Bảng 4.4).
  • Mô hình Chuỗi giá trị: Đánh giá theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, tổng kết các địa phương có chuỗi giá trị thành công năm 2021 (Bảng 4.7).
  • Mô hình Hội quán nông dân: Thống kê số lượng hội quán tại Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2020 (Bảng 4.8), đánh giá tác động của hội quán đến thành viên (Hình 4.6) và cộng đồng (Hình 4.7).

Luận án tiến hành nghiên cứu sâu ba trường hợp cụ thể: mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa, mô hình chuỗi giá trị khoai lang tại Vĩnh Long (Hình 4.8) và mô hình Hội quán Mỹ Thành tại Đồng Tháp. Qua đó, tác giả đánh giá tác động tích cực của các mô hình đối với chuyển biến quan hệ sản xuất, tinh thần hợp tác (Hình 4.9), trách nhiệm doanh nghiệp (Hình 4.10), hiệu quả kinh tế (Hình 4.11), thúc đẩy phát triển bền vững (Hình 4.13). Đồng thời, chương này chỉ ra các hạn chế căn bản: đất đai manh mún (Hình 4.14), ứng dụng khoa học công nghệ còn thấp (Hình 4.12, Hình 4.15), lực lượng lao động lớn tuổi và trình độ thấp (Hình 4.17), các tiêu chí không thay đổi sau liên kết (Hình 4.18) và các tồn tại khác (Hình 4.16, Hình 4.19).

Chương 5: Giải pháp phát triển các mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp ở ĐBSCL

Chương 5 phân tích bối cảnh phát triển mới của ĐBSCL gắn với biến đổi khí hậu, hội nhập kinh tế quốc tế và các định hướng chiến lược theo Nghị quyết số 13-NQ/TW và Nghị quyết số 120/NQ-CP. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng năm nhóm giải pháp:

  1. Nhóm giải pháp khắc phục hạn chế của các chủ thể tham gia các mô hình liên kết kinh tế (nâng cao trách nhiệm hợp đồng của nông dân và doanh nghiệp).
  2. Nhóm giải pháp cải thiện cách thức tổ chức - quản lý sản xuất (hoàn thiện quy chế quản trị, gắn kết lợi ích).
  3. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.
  4. Nhóm giải pháp giải quyết vấn đề thị trường, thúc đẩy đầu ra nông sản trong hội nhập quốc tế.
  5. Nhóm giải pháp khác (hoàn thiện cơ chế chính sách, tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp). Đặc biệt, tác giả trình bày cơ sở và đề xuất sơ đồ mô hình liên kết kinh tế mới trong nông nghiệp vùng ĐBSCL (Hình 5.1).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và phân tích các lý thuyết liên quan đến mô hình liên kết kinh tế dưới góc độ Kinh tế chính trị, kết hợp lý luận Mác - Lênin về quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, lý luận hợp tác hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và các lý thuyết kinh tế hiện đại.
  • Xây dựng và đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả của mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp dựa trên sự vận động và biến đổi của ba mặt cấu thành quan hệ sản xuất (sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm) gắn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của bốn mô hình liên kết kinh tế điển hình (tổ hợp tác, cánh đồng lớn, chuỗi giá trị, hội quán nông dân) tại ĐBSCL trên cơ sở dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát 1.000 hộ nông dân.
  • Đánh giá cụ thể tác động tích cực của các mô hình trong việc thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất từ manh mún, nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa lớn và kinh tế tập thể; đồng thời nhận diện các hạn chế cốt lõi về tính lỏng lẻo của hợp đồng, đất đai phân tán, nhân lực già hóa và trình độ công nghệ hạn chế.
  • Đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ và thiết kế một mô hình liên kết kinh tế mới phù hợp với điều kiện chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp tại vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Phạm vi thu thập dữ liệu sơ cấp đối với 1.000 hộ nông dân được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện do giới hạn về nguồn lực và điều kiện khảo sát thực tế của tác giả, chưa bao quát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trên toàn vùng.
  • Khảo sát mô hình hội quán nông dân chỉ tập trung thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp do tính chất đặc thù về lịch sử hình thành và sự phát triển tập trung của mô hình này tại địa phương.
  • Dữ liệu thứ cấp tổng hợp cho bốn mô hình có khoảng thời gian nghiên cứu không đồng nhất (THT giai đoạn 2001 - 2021; cánh đồng lớn giai đoạn 2011 - 2020; chuỗi giá trị giai đoạn 2013 - 2021; hội quán giai đoạn 2016 - 2022) do phụ thuộc vào nguồn lưu trữ và chế độ báo cáo thống kê chuyên ngành.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát ngẫu nhiên với cỡ mẫu lớn hơn tại toàn bộ 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL để nâng cao tính đại diện.
  • Khảo sát sự lan tỏa và hiệu quả thực tế của mô hình hội quán nông dân khi được nhân rộng sang các tỉnh khác ngoài Đồng Tháp.
  • Vận dụng các mô hình kinh tế lượng để lượng hóa các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế và mức độ tuân thủ cam kết hợp đồng của các bên tham gia liên kết.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp: Có thể tham khảo cách tiếp cận nghiên cứu liên kết kinh tế thông qua khung phân tích ba mặt của quan hệ sản xuất (sở hữu, tổ chức - quản lý, phân phối) tại Chương 2 và Chương 3.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh ĐBSCL): Cung cấp căn cứ thực tiễn từ Chương 4 và hệ thống chính sách đề xuất tại Chương 5 nhằm tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, thể chế hợp đồng và thúc đẩy liên kết nông dân - doanh nghiệp.
  • Ban quản trị các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu nông sản và ban chủ nhiệm hội quán: Tham khảo các phát hiện từ ba nghiên cứu tình huống điển hình (cánh đồng lớn trồng lúa, chuỗi khoai lang Vĩnh Long, Hội quán Mỹ Thành) để hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích và quản trị chuỗi cung ứng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bốn mô hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp được luận án tập trung khảo sát là gì? Luận án tập trung nghiên cứu bốn mô hình liên kết kinh tế gồm: mô hình tổ hợp tác, mô hình cánh đồng lớn, mô hình chuỗi giá trị và mô hình hội quán nông dân tại vùng ĐBSCL.

  2. Luận án tiếp cận nghiên cứu liên kết kinh tế dưới góc độ chuyên ngành nào? Luận án tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị, tập trung xem xét sự chuyển đổi từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa dựa trên ba mặt của quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm.

  3. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập với quy mô mẫu bao nhiêu và bằng phương pháp nào? Tác giả đã thực hiện khảo sát điều tra bảng hỏi đối với 1.000 chủ hộ sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu các đối tượng đại diện tại các mô hình điển hình.

  4. Ba trường hợp nghiên cứu tình huống cụ thể trong Chương 4 là gì? Ba trường hợp cụ thể được phân tích sâu gồm: mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa, mô hình chuỗi giá trị khoai lang tại tỉnh Vĩnh Long, và mô hình Hội quán Mỹ Thành tại tỉnh Đồng Tháp.

  5. Những hạn chế nổi bật nào của các mô hình liên kết tại ĐBSCL được chỉ ra từ khảo sát? Khảo sát chỉ ra các hạn chế căn bản: diện tích sản xuất còn manh mún; tính ràng buộc và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp và nông dân chưa cao; mức độ ứng dụng khoa học công nghệ còn thấp; nguồn nhân lực nông nghiệp có độ tuổi cao và trình độ học vấn thấp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Kim Thừa (2024) đã hệ thống hóa lý luận về liên kết kinh tế trong nông nghiệp dưới góc độ Kinh tế chính trị, làm rõ sự biến đổi của quan hệ sản xuất trong tiến trình phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp. Thông qua dữ liệu thống kê thứ cấp và khảo sát 1.000 hộ nông dân, luận án phản ánh toàn diện thực trạng, tác động tích cực và những điểm nghẽn của bốn mô hình liên kết kinh tế tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và mô hình liên kết mới, đóng góp thiết thực cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững của vùng trong bối cảnh hiện nay.