CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN CÁC MÔ HINH LIEN KET KINH TE TRONG NÔNG NGHIỆP. Lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Các nghiên cứu khái quát lý thuyết về liên kết kinh tế Tại ĐBSCL, nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Anh (2014), đối với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp, qua thống kê, phân tích các mô hình liên kết sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL, tác giả đã đề xuất những kinh nghiệm trên thế giới và giải pháp đề áp dụng cho mô hình liên kết này. Những nội dung cụ thé được nêu ra: Mét là, hệ thống hóa lý luận: Giải thích một số khái niệm về liên kết, doanh nghiệp, nông dân; Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp.
Hai là, kinh nghiệm của thế giới trong vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuât và tiêu thụ lúa gạo (Thái Lan), từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. 8a là, tìm hiểu và phân tích một số mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL và dự báo xu hướng. Bốn /à, kết luận và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đầy liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo quy mô toàn vùng ĐBSCL trong thời gian tới. Công trình của Hoàng Mạnh Hùng (2014) đối với vấn đề phát triển liên kết kinh tế giữa nông nghiệp thủ đô Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận, tập trung phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đối với việc liên kết nông nghiệp giữa Hà Nội và nông nghiệp của các tỉnh phụ cận.
Các giải pháp về mối liên kết này tập trung đối với các nội dung: Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, hiéu bi: về liên kết giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ ; Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, đánh giá tiềm năng và các cơ hội phát triển mối liên kết của nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh phụ cận; Nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong phát triên các mối quan hệ liên kết giữa nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh phụ cận; Đây mạnh gắn kết giữa các chủ thể sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận; Đôi mới, hoàn thiện các chính sách tạo các môi trường pháp lý và kinh tế cho phát triển các mối liên kết; Thiết lập lại trật tự hoạt 10 động liên kết trong hệ thống tiêu thụ nông sản của nông nghiệp các tỉnh phụ cận ở địa ban Thủ đô Hà Nội; Phát triển va nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong liên kết kinh tế giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận; Nâng cao. năng lực các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đáp ứng yêu cầu liên kết giữa nông nghiệp Hà Nội với nông nghiệp các tỉnh phụ cận. Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Nga & Lê Đức Niêm (2016) chỉ ra cơ sở lí luận tạo ra mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê tại Tây Nguyên. Với phương pháp điều tra, thu thập số liệu từ hộ nông dân và doanh nghiệp, tác giả đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên.
Từ đó, chỉ ra hạn chế và thách thức, đặc biệt là việc tuân thủ quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận chính sách hỗ trợ và đề xuất giải pháp thúc đầy các liên kết bền vững. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương (2020,31), chỉ ra mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp dài ngày đã trình bày bao quát được các nội dung về lý luận và thực tiễn về liên kết. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đã phân tích được khái niệm, đặc trưng, nội hàm và các lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho nghiên cứu, nội dung liên kết, quy mô, vai trò, động lực, cách tổ chức thực hiện liên kết. Về mặt thực tiễn, bên cạnh việc chỉ ra được các mô hình liên kết thành công trên thé giới và ở Việt Nam, áp dụng phân tích tại tinh Đắk Lắk dé đi đến đề xuất các giải pháp và kiến nghị đối với chính quyền địa phương và các cơ quan quản li cap Trung ương.
Các nghiên cứu về phân loại liên kết kinh tế 1. Các nghiên cứu theo hướng liên kết Thứ nhất, nghiên cứu về sự phối hợp giữa liên kết đọc và liên kết ngang. Tác giả Min Zhang (2016), thực hiện nghiên cứu tại Trung Quốc, chỉ ra một niềm tin rộng rãi rằng sự phối hợp cả liên kết theo chiều dọc và chiều ngang sẽ giúp nôn dân quy mô nhỏ tiếp cận thị trường và vượt qua những hạn chế mà các nông dân quy mô nhỏ phải đối mặt. Trong đó, tác giả lập luận sự phối hợp theo chiều ngang (farmer’s organization) là một cấu trúc quản trị phù hợp dé liên kết nông dân quy mô nhỏ và các thị trường khác trong chuỗi cung ứng.
Đồng thời, cũng chỉ ra sự phát triển 11 của các hợp tác xã liên kết với nông dân là xu thế phù hợp với nhu cầu của nông dân để tiếp cận thị trường. Thứ hai, các nghiên cứu về liên kết đọc giữa sản xuất và tiêu thụ. Đối với những nghiên cứu về vai trò của liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam và một số tỉnh. Có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Xuân Dũng (2007) đã phân tích thực trạng các mô hình liên kết sản xuất nông sản ở Việt Nam, trên cơ sở chỉ ra những thuận lợi và hạn ché, tác giả đề xuất giải pháp day mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
Cùng van đề về môi liên kết sản xuất và tiêu thụ, có công trình của Nguyễn Văn Sánh và cộng sự (2011), nghiên cứu trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở tỉnh An Giang. Các tác giả sử dụng công cụ PRA, phương pháp điều tra nông hộ, phân tích số liệu để tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL. Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng cường mối liên kết bốn nhà. Kết quả chỉ ra những trở ngại chính trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của nông dân là thiếu nguồn cung ứng giống tốt, nguồn vốn dau tư còn hạn ché, giá cả vật tư nông nghiệp biến động và tình hình được mùa mắt giá của thị trường.
Về mối liên kết bốn nhà, nhìn chung còn lỏng lẻo, mức độ tham gia liên kết của các tác nhân có vai trò quyết định còn hạn chế. Các tác giả cũng chỉ ra trong quá trình liên kết, mô hình này được sự hỗ trợ nhiệt tinh từ chính quyền địa phương — một tác nhân có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của mô hình liên kết bốn nhà. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Sơn (2012) với đề tài cấp tỉnh về liên kết sản xuất và tiêu thụ cho nhiều mặt hàng nông sản. Công trình này đề xuất các giải pháp kinh tế - kỹ thuật liên kết bồn nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã cho thấy tỉnh này đã có một số hàng nông sản mà việc sản xuất và tiêu thụ có sự gắn kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp thông qua hợp đồng, bao gồm các sản phẩm chăn nuôi (sữa, lợn), trồng trọt (rau, chè, mía, ngô, cam, hạt giống) nhưng chưa thật sự thành công vì thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, Nguyễn Phú Son (2013) nghiên cứu liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại xã Định Hòa, huyện Gò quao, tỉnh Kiên Giang. Tác giả 12 dựa trên nền tảng lý thuyết về chuỗi giá trị đê xây dựng các bước thực hiện mô hình liên kết dọc cho việc sản xuất và tiêu thụ lúa gạo đạt hiệu quả tại đây. Tác giả Hoàng Vũ Quang (2017), nghiên cứu việc hợp tác công tư trong liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, thông qua vận dụng kinh nghiệm từ dự án Better rice initiative Asia tại Việt Nam.
Trên cơ sở khảo sát mô hình ở ba tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp đã cho thay hiệu quả mang lai từ việc hợp tác đa dạng của các tác nhân trong mô hình như: giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giảm chỉ phí sản xuất, tăng lợi nhuận, giảm ô nhiễm môi trường. Công trình của Nguyễn Thị Dương Nga (2017) đã thực hiện nghiên cứu tại Ninh Bình đối với một số mô hình liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Từ đó, chỉ ra những vi phạm trong van đề liên kết, gây thiệt hai cho các bên và suy giảm niềm tin khi tham gia liên kết. Xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong tiêu thụ nông sản tỉnh Ninh Bình.
Tác giả Trần Cao Úy (2017) thực hiện nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau màu ở phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đề khảo sát hoạt động sản xuất, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nhu cầu liên kết trong sản xuất rau màu. Kết quả cho thấy, hiện nay trên địa bàn này tồn tại hai mối liên kết chính trong sản xuất rau màu, bao gồm các liên kết ngang và liên kết doc nhưng các mối liên kết này vẫn rất lỏng lẻo. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu sản xuất rau màu trên địa bàn nghiên cứu. Nguyễn Thị Vân (2018) nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ trái cây tại tỉnh Bến Tre đã chỉ ra mô hình sản xuất và tiêu thụ trái cây theo truyền thống và mô hình theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Trong đó, mô hình sản xuất và tiêu thụ theo tiêu chuẩn kỹ thuật được thành công là nhờ có sự liên kết giữa nhà doanh nghiệp, nhà nông, nhà khoa học dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp khó khăn do thực hiện sản xuất trái cây theo qui trình thực hành nông nghiệp tốt, yêu cầu đặt ra là các hộ tham gia theo tiêu chuân Vietgap, Globalgap phải có nhà vệ sinh tự hoại, có nhà kho lưu trữ phân, thuốc bảo vệ thực vật chưa sử dụng, v.