CHƯƠNG 1. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY DAO ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA DAO ĐỘNG ĐẾN Ô TÔ 1.1 Các yếu tố tác động gây dao động - Mấp mô mặt đường: Trong thực tế mấp mô mặt đường mang tính chất ngẫu nhiên. Chúng thay đổi trong quá trình xe chuyển động về độ cao mấp mô, khoảng cách giữa các mấp mô… - Gió: Độ mạnh nhẹ, chiều hướng, tính chất là ngẫu nhiên, thay đổi trong quá trình xe chuyển động và về cơ bản tâm tác động của gió không trùng với trọng tâm của xe. - Lực quán tính: + Lực quán tính do phanh xe.
+ Lực quán tính do tăng tốc. + Lực quán tính do xe quay vòng. Khi quay vòng xe ngoài gia tốc dọc còn xuất hiện gia tốc ngang ảnh hưởng tới dao động ô tô. - Kích động do động cơ hoạt động: Những tác động của động cơ đến dao động ô tô phụ thuộc vào tình trạng làm việc của động cơ, tình trạng tải.
Do vậy cũng mang tính chất ngẫu nhiên.2 Đánh giá các nguồn kích động gây dao động ô tô Trong các yếu tố gây dao động ở trên thì yếu tố mấp mô mặt đường được coi là nguồn chủ đạo gây dao động ô tô. Vì mô tả chính xác quy luật kích động của mấp mô mặt đường là tốn kém và phức tạp, nên trong nghiên cứu dao động ô tô thì tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu mà ta có thể mô tả mấp mô mặt đường theo các dạng sau. + Dạng sin: h = h0 (sin(2π f ) t + Dạng bước nhảy hay dạng xung: Xe đi lên một mấp mô. + Dạng ngẫu nhiên: h = f ( t) ≈ ( mf , Rf (τ )) Trong đó: mf : Là giá trị trung bình.
R R Rf : Hàm tương quan. R R τ: Thời gian tương quan. 12 Khi nghiên cứu dao động ô tô bằng việc xây dựng mô hình rồi mô phỏng dao động của xe thì việc kiểm tra mô hình bằng cách chọn các kích động là dạng xung đơn hoặc tuần hoàn sẽ dẽ dàng hơn cả mà vẫn đảm bảo tính chính xác. Khi đó tín hiệu đầu vào là tường minh và tín hiệu ra của mô hình có thể đánh giá được.
Khi nghiên cứu ô tô dưới kích động là một số loại đường cụ thể buộc ta phải làm thí nghiệm, đo đạc, nghiên cứu, khảo sát các loại đường đó và sử dụng hàm ngẫu nhiên để mô tả. Hiện nay đã có nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu quy luật phân bố ngẫu nhiên của đường và mô tả chúng. Trong giới hạn của luận văn khi nghiên cứu dao động ô tô dưới kích động của đường. Trong khuôn khổ của luận văn, hàm khích động được chọn là hàm tuần hoàn.
Ảnh hưởng của dao động - Ảnh hưởng của dao động đến sức khỏe con người. Đối với sức khỏe của con người, đặc biệt là của lái xe. Dao động của ô tô có thể gây mệt mỏi, căng thẳng cho lái xe ảnh hưởng đến hoạt động lái xe, đặc biệt là phản xạ để sử lý tình huống. - Ảnh hưởng đến hàng hóa.
Đối với hàng hóa dao động của ô tô có thể làm hư hỏng hàng hóa như dập nát,gãy, vỡ hoặc thay đổi hình dạng và tính chất của hàng hóa. - Ảnh hưởng đến đường. Khi xe chạy trên đường, dao động của ô tô gây ra tải trọng động cùng với tải trọng tĩnh của xe làm hư hỏng đường và cầu cống. - Ảnh hưởng đến các chi tiết của ô tô.
Tác động từ mặt đường lên xe gây ra dao động làm va đập, gây ra tải trọng thay đổi đối với các chi tiết của ô tô, ảnh hưởng đến độ bền của các chi tiết. - Ảnh hưởng đến khả năng truyền lực. Dao động cũng làm ảnh hưởng đến khả năng truyền lực cũng như tính điều khiển hướng chuyển động của xe, ổn định chuyển động, lật xe…Dao động ô tô tạo 13 nên các tải trọng động trên các bánh xe, làm thay đổi độ bám đường của bánh xe và tạo ra các gia tốc lắc làm ảnh hưởng đến chuyển động của xe. - Ảnh hưởng đến chuyển động tương đối giữ thân xe và cầu xe.
Chuyển động tương đối giữa thân xe và cầu xe liên quan đến việc bố trí không gian cho hệ treo khi thiết kế ô tô. Chỉ tiêu đánh giá dao động 1.Chỉ tiêu về độ êm dịu - Đối với con người: Người ta định nghĩa cường độ dao động KB là một hàm của gia tốc bình phương trung bình, tần số dao động và thời gian tác dụng được tính toán phụ thuộc vào phương tác dụng. KB = f (z, f, t) Theo tiêu chuẩn ISO 2631/VDI 2057 Cường độ dao động theo phương thẳng đứng Kz được xác định như sau: Kz = 10a z f Với 1≤ f ≤ 4Hz (1.2) 160 a z Kz = Với 8≤ f ≤ 80Hz (1.3) f Tiêu chuẩn ISO 2631 đưa ra các ngưỡng Kz như sau: Kz < 0,2 Không cảm nhận được dao động. 0,2 ≤ Kz ≤ 0,4 Có thể cảm nhận được dao động.
0,4 ≤ Kz ≤ 1,6 Cảm nhận tốt dao động. 1,6 ≤ Kz ≤ 6,3 Giới hạn thỏa mái với t < 24h 6,3 ≤ Kz ≤ 12,5 Cảm giác mạnh. 12,5 ≤ Kz ≤ 100 Cảm giác rất mạnh. Kz = 112 Cảm giác như bị chấn động không chịu được nhiều hơn 1 phút, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.1 Sự phụ thuộc của gia tốc bình phương trung bình theo tần số Khi thời gian kéo dài giới hạn này sẽ giảm dần, xem hình 1.
Quan hệ cường độ êm dịu với thời gian Để dễ dàng xem xét, người ta đưa ra quan hệ giới hạn gia tốc phụ thuộc tần số f và tham số thời gian như hình 2.3a,b) là phân bố hệ số K cho từng loại xe. Phân bố độ êm dịu các loại xe 16 Hình1. Phân bố độ êm dịu các loại xe - Đối với hàng hoá: Theo Hiệp hội đóng gói Đức BFSV, ngưỡng an toàn cho hàng hoá như sau: amax = 0,3g – giới hạn cảnh báo R R amax = 0,5g – giới hạn can thiệp R R (g – gia tốc trọng trường) + Giới hạn cảnh báo: Hệ thống treo hoặc đường xá đã hỏng đến mức cần có kế hoạch sửa chữa. + Giới hạn can thiệp: đường đã hỏng nặng, cần sửa chữa ngay.Chỉ tiêu về tải trọng động Khi xe chuyển động trên đường, dao động của các khối lượng ô tô tạo nên tải trọng động tác động lên đường và phản lực từ đường tác động lên bánh xe.
Tải trọng động cực đại làm hư hỏng đường và giảm tuổi thọ của các chi tiết, tải trọng động còn ảnh hưởng đến an toàn động lực học của xe. 17 - Chỉ tiêu về độ bền chi tiết max( Fz, dyn) Hệ số tải trọng động cực đại : kdyn, max = 1 + ≤ 2,5 (1.4) F z, st Trong đó: kdynmax : Hệ số tải trọng động cực đại. R R Fz,dyn : Tải trọng động bánh xe. R R Fz,st R R : Tải trọng tĩnh bánh xe.
Kích động ngẫu nhiên max (Fz,dyn ) được xác định như sau: R R 1 T 2 1, 64 Fz , RMS và kdyn, max = +1 T ∫0 F z, RMS = F z(t ) − F z, st dt (1.5) F z, st - Chỉ tiêu về an toàn động lực học Tải trọng động ảnh hưởng đến mức độ bám đường của bánh xe. Do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng truyền lực dọc khi xe tăng tốc và khi phanh, giữ ổn định quỹ đạo chuyển động. Người ta định nghĩa hệ số tải trọng động cực tiểu kdyn , min để chỉ ra khả năng giảm truyền lực của bánh xe. R R R R min(Fz ,dyn ) K dyn,min = 1 + 0 ≤ k dyn,min ≤ 1 (1.6) Fz , st R R R R K dyn,min = 0,5 R R Giới hạn cảnh báo.
K dyn,min = 0 R R Giới hạn can thiệp.Chỉ tiêu về mức độ thân thiện với đường Một số nghiên cứu tại Anh và Mỹ đã đưa ra rằng mức độ ảnh hưởng của dao động ô tô đến cầu và đường tỷ lệ với số mũ bậc 4 của áp lực bánh xe với đường. Theo Mr Wilkinson đưa ra công thức xác định hệ số áp lực đường w như sau.8) Fz, st 18 1 ∑ w(i) F (i) z, st Xe có i bánh xe thì áp lực toàn xe là: W= i i (1.4 Chỉ tiêu về không gian bố trí hệ thống treo Khả năng chọn độ võng, độ võng tĩnh và vị trí đặt ụ hạn chế hành trình của hệ treo. fdyn tr ≤ max(ξ − z) ≤ fdynn (1.10) Trong đó: (ξ - z) – Chuyển vị tương đối giữa khối lượng được treo và khối lượng không được treo. fdyntr - Độ võng hành trình trả của hệ treo.
fdyn n - Độ võng hành trình trả nén của hệ treo, là vị trí đặt ụ hạn chế hành trình Hình 1.2 Sơ đồ đặc tính đàn hồi C = tgα : Độ cứng bộ phận đàn hồi hệ thống treo. fdyn n : Hành trình nén. fdynt : Hành trình trả. S : Không gian làm việc của hệ thống treo.
XÂY DỰNG MÔ HÌNH DAO ĐỘNG CỦA XE TẢI 1/4 2. Đặc điểm cấu trúc xe tải Mô hình không gian mô tả dao động ô tô là hệ nhiều vật phức tạp, bao hàm nhiều khối lượng liên kết qua các phần tử đàn hồi, chủ yếu là phi tuyến. Việc nghiên cứu sẽ dễ dàng và dễ kiểm soát nếu chia cơ hệ thành các hệ con, tức là môđun hóa khi thiết lập mô hình cũng như khi lập phương trình. Phương pháp tách cấu trúc cũng rất phù hợp với tư duy mô phỏng trong Matlab Simulink.
Nếu một xe có vỏ chịu lực, treo độc lập thì tối thiểu cơ hệ có (1+4) khối lượng, nếu treo phụ thuộc thì cơ hệ có tối thiểu (1+2) khối lượng. Nếu xe có kiểu khung chịu lực như xe tải, có hai khối lượng được treo, thì tối thiểu mô hình có (2+3) khối lượng. Các khối lượng được treo và không được treo liên kết với nhau qua hệ thống treo, có đặc tính đàn hồi và đặc tính cản. Trong mô hình có thể coi hệ treo như một môđun.
Nếu xét theo góc độ dao động thì bánh xe cũng là phần tở đàn hồi và do vậy nó cũng là một hệ con. Mục tiêu chính của nghiên cứu dao động ô tô là nâng cao êm dịu và an toàn chuyển động, giảm áp lực cho cầu đường. Các dao động của các khối lượng liên quan đến mục tiêu này đều nằm trong mức tần số dưới 30Hz, chính vì thế phức tạp đến đâu thì dao động ô tô vẫn là một hệ nhiều vật.