Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kiến nghị và kết luận 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Nhận thức lợi ích của mối quan hệ: Bài báo cáo này nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố lợi ích từ mối quan hệ của nhà cung cấp với nhà bán lẻ. Theo mô tả từ Li (2011) định nghĩa về nhà bán lẻ và nhà cung cấp. Nhà bán lẻ là người mua sản phẩm từ nhà sản xuất hoặc từ nhà bán buôn và bán chúng cho người tiêu dùng hoặc khách hàng.
Nói cách khác, nhà bán lẻ là người trung gian giữa khách hàng (người sử dụng sản phẩm cuối cùng) và nhà sản xuất. Nhà bán lẻ là những chuyên gia về marketing, kinh doanh, quản lý hàng tồn và hiểu về khách hàng. Họ mua hàng với giá sản xuất và bán với giá bán lẻ, giá bán lẻ có thể cao hơn từ 10% đến 50% so với chi phí của nhà sản xuất, phần chênh lệch này được sử dụng như là một khoản phí dành cho tiếp thị và quảng cáo, để sản phẩm của nhà sản xuất được khách hàng hay người dùng biết đến. Nhà cung cấp là người bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nhà bán lẻ, nhà cung cấp có thể là nhà trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và bán cho nhà bán lẻ hay là nhà gián tiếp phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho nhà bán lẻ.
Để tạo dựng và duy trì mối quan hệ lâu dài giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng người thụ hưởng dịch vụ, cả hai bên đều phải được lợi ích nào đó trong mối quan hệ. Trong quan hệ marketing, các nhà cung cấp đã thay đổi từ chỉ tập trung vào việc mua bán cứng nhắc sang xây dựng các mối quan hệ dài lâu, lợi ích mối quan hệ này là lợi ích mà khách hàng nhận được khi hai bên cùng có lợi (Berry, 1995; Hsiao và cộng sự, 2010). Loại lợi ích mà các nhà bán lẻ đang tìm kiếm bao gồm giảm chi phí, chất lượng phân phối, các dịch vụ mới và sáng tạo, truyền thông hợp tác (Qureshi và cộng sự, 2007; Shen và cộng sự, 2010; Chiang và cộng sự, 2011; Kumar, 2011). Do đó mà hoạt động trong chuỗi cung ứng định hướng theo hành vi đã làm cho các nhà cung cấp phải bổ sung thêm các dịch vụ mới và sáng tạo để thu hút các nhà bán lẻ (Shen và cộng sự, 2010).
Khái niệm được phát triển bởi Li (2011) đã bổ sung thêm những nhận định lý thuyết mới về bộ ba lợi ích - sự hài lòng - trung thành đã được áp dụng bởi các nhà bán lẻ và các nhà cung cấp, nghiên cứu đã cung cấp một 8 cái nhìn đầy ý nghĩa về cách triển khai các lợi ích quan hệ trong chuỗi cung ứng để biến đổi từ một nhà cung cấp cơ bản sang nhà cung cấp chiến lược. Tuy nhiên, mô hình của Li đã không bao gồm các ảnh hưởng của lòng tin vào mối quan hệ cam kết lâu dài của chuỗi cung ứng. Kinard và cộng sự (2006) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động sự tham gia của người tiêu dùng đến các lợi ích quan hệ được nhận biết qua các loại hình dịch vụ khác nhau và kết luận rằng khách hàng sẽ nhận thấy những lợi ích lớn hơn khi họ cùng tham gia vào mối liên hệ. Khi được áp dụng chính xác, các lợi ích liên quan được tạo ra trong chuỗi cung ứng có thể là lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng tổng thể của công ty (Mentzer và cộng sự, 2001).
Ví dụ, các nhà bán lẻ lớn, như Nguyễn Kim, đã thiết kế lại liên kết chuỗi cung ứng của mình bằng cách thiết lập các hoạt động do nhà cung cấp quản lý hoàn toàn. Khi khách hàng cần sửa chữa máy giặt hiệu Samsung mua tại Nguyễn Kim, thì nhà cung cấp sản phẩm của Nguyễn Kim, Samsung sẽ trực tiếp gửi các nhân viên bảo trì bão dưỡng của chính hãng đến tận nhà của khách hàng để kiểm tra và sửa chữa. Loại lợi ích quan hệ này cho phép các nhà bán lẻ giảm hàng tồn kho và duy trì các dây chuyền chuỗi cung ứng không bị gián đoạn. Có thể định nghĩa tổng quát lợi ích từ mối quan hệ là những lợi ích mà khách hàng nhận được không những đến từ việc sử dụng hay trải nghiệm những sản phẩm và dịch vụ cốt lõi mà là kết quả của việc tạo dựng mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp dịch vụ (Hennig-Thurau và cộng sự, 2000).
Theo nghiên cứu thực nghiệm của Li (2011), cho rằng lợi ích từ mối quan hệ bao gồm ba loại lợi ích quan trọng: lợi ích giá trị gia tăng, lợi ích hợp tác và lợi ích kinh tế. Lợi ích giá trị gia tăng Lợi ích giá trị gia tăng là một tiến trình tự nhiên trong việc mở rộng kinh doanh, khi mà cùng lúc có nhiều nhà cung cấp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cùng loại, để tạo lợi thế cạnh tranh, các nhà cung cấp phải thật sự hiểu nhà bán lẻ của mình và phải có kinh nghiệm khi tham gia vào các thị trường mới (Long và Nelson, 2010). Dựa vào lịch sử mua bán và sự hiểu biết đối tác của mình, nhà cung cấp có thể dự đoán được thời gian, sản phẩm, dịch vụ,. cần cung cấp trước khi nhà bán lẻ phát sinh ra nhu cầu.
Cung cấp dịch vụ trước khi mua hàng là cách các nhà cung cấp tạo ra giá 9 trị gia tăng cho nhà bán lẻ. Ví dụ, với các công ty trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) như Unilever, P&G thông qua phương thức nhà tiếp thị thương mại (trade marketing) thực hiện các hoạt động như phát hàng mẫu, tổ chức sự kiện, khuyến mãi … cùng nhà bán lẻ đem đến sản phẩm cho người tiêu dùng một cách đầy đủ nhất. Thay đổi và sáng tạo từ nhà cung cấp làm cho phương thức tiếp thị quảng cáo trở nên mới mẻ hơn giúp gia tăng giá trị lợi ích. Một lợi ích giá trị gia tăng khác nữa của nhà cung cấp là cập nhật thông tin và kiến thức về các quy định quy tắc mới, tuân thủ an toàn.
Trong nghiên cứu này, lợi ích giá trị gia tăng cũng liên quan đến sự quen thuộc của nhà cung cấp với các doanh nghiệp, các quy tắc an toàn và trách nhiệm tuân thủ. Ví dụ, đối với nhà bán lẻ là siêu thị, quy định của nhà nước khi kinh doanh thực phẩm đóng gói phải có công bố hợp chuẩn, hợp quy theo thông tư số 28/2012/TT-BKHCN của bộ Khoa học và công nghệ, trong đó, hồ sơ công bố có hiệu lực 3 năm đối với đơn vị không có chứng nhận ISO hoặc HACCP, 5 năm đối với đơn vị có chứng nhận ISO hoặc HACCP. Khi các nhà cung cấp hiểu được các quy định này và tuân thủ, chủ động cập nhật và cung cấp hồ sơ cho siêu thị đúng thời hạn. Điều này tạo ra một giá trị lợi ích thật sự cho nhà cung cấp.
Ý thức giảm bớt lo lắng, tin cậy được vào người cung cấp, giảm nhận thức về rủi ro và đáp ứng đúng những mong đợi là lợi ích giá trị gia tăng quan trọng mà nhà cung cấp mang lại cho nhà bán lẻ. Lợi ích hợp tác Một chuỗi cung ứng mạnh hay yếu tùy vào mối liên kết của nó. Quan niệm ở đây là tập trung vào sự hợp tác mạnh mẽ và có hiệu quả. Điểm cơ bản phân biệt quản lý chuỗi cung ứng và quản lý nguồn lực truyền thống là cách phối hợp giữa các đối tác kinh doanh được quản lý như thế nào.
Do đó, hợp tác là một vấn đề quan trọng trong quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay (Li, 2006; Li và Warfield, 2011). Li (2011) chỉ ra rằng cốt lõi của hợp tác là trao đổi thông tin là kết nối các liên kết của một chuỗi cung ứng với nhau. Theo Jesus và Yolana (2011), sự hợp tác là giải thích có ý nghĩa cho định hướng quan hệ lâu dài của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng; nghiên cứu của Mysen và cộng sự (2011a), Jena và cộng sự (2011) chỉ rõ, có sự 10 phụ thuộc lẫn nhau giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp. Cao và cộng sự (2010) chỉ ra rằng để có một mối quan hệ mạnh mẽ và tích cực là dựa mức độ hợp tác của chuỗi cung ứng.
Lợi ích hợp tác khác với lợi ích giá trị gia tăng, hợp tác là tập trung vào chia sẻ thông tin và truyền thông; Trong khi dịch vụ giá trị gia tăng tập trung vào các lợi ích bổ sung cho dịch vụ chính. Để tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin hợp tác giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp đang mở rộng phạm vi toàn cầu của họ bằng cách thêm nhiều chi nhánh và tích hợp các công nghệ tiên tiến vào hệ thống đặt hàng của họ. Một số nhà cung cấp còn cung cấp nhân sự làm việc tại chỗ nhà bán lẻ, tích hợp các hệ thống lập kế hoạch sản xuất của họ với các nhà bán lẻ, và dự đoán nhu cầu năng lực trong tương lai với nhà bán lẻ. Ví dụ, công ty cổ phần thực phẩm Vĩnh Thành Đạt là công ty cung cấp trứng cho siêu thị Co.opmart, nhân viên của công ty luôn có mặt tại siêu thị để theo dõi lượng bán và chủ động đặt hàng dựa trên tình hình kinh doanh tại chỗ của siêu thị.
Theo nghĩa này, nhận thức về lợi ích hợp tác của nhà bán lẻ đã vượt quá kết quả mong đợi của họ. Lợi ích của hợp tác trao đổi thông tin có đóng góp vào mối quan hệ hỗ trợ và hợp tác kinh doanh lẫn nhau (Mohr và công sự, 1996; Prahinski và cộng sự, 2004). Prahinski và cộng sự (2004) nghiên cứu hành vi quan hệ từ quan điểm của nhà cung cấp và kết luận rằng hợp tác trao đổi thông tin sẽ bổ sung lẫn nhau giữa các nhà bán lẻ và nhà cung cấp và có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của nhà bán lẻ. Từ quan điểm của bên mua, Mohr và cộng sự (1996) nhận thấy rằng hợp tác trao đổi thông tin có liên quan đáng kể đến sự hài lòng và lòng trung thành của người mua.
Chia sẻ thông tin và sự liên đới giữa các nhà cung cấp và nhà bán lẻ tạo điều kiện cho dự đoán nhu cầu của nhau, thúc đẩy hợp tác và điều phối.