phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE LẺ VU LAN CUA PHẬT GIAO VA CONG DONG PHAT TU TAI THANH PHO RACH GIA, KIEN GIANG 1. Khái quát chung về lễ Vu Lan của Phật giáo 1. Khái niệm Vu lan (chữ Hán: HM, bính âm: yúlán), còn được gọi là lễ báo hiếu hay lễ về lòng hiếu thao, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo (Đại thừa Bắc tông) và phong tục của Việt Nam, Trung Hoa và một số quốc gia châu Á khác.
Lễ Tết Trung Nguyên và truyền thống lễ cúng ông bà cũng tương đương với lễ Miryang baekjung nori (6 Hàn Quốc), Pchum Ben / Sen Đôn-ta(ở Campuchia và người Khmer) Boun khao padap din (ở Lào), matakadanaya (Sri Lanka), Sart Thai (Thái Lan). Vu Lan là cách viét tắt của "Vu Lan b6n", tiếng Phan là "Ullambana". Trong đó, Ullam dịch là "treo ngược" (đảo huyền), ví cho sự thống khổ của người chết như bị treo ngược; chữ "bồn" tiếng Phạn là "bana" tạm dịch là "cứu giúp". Như vậy chúng ta có thể hiểu từ "Vu Lan bồn" có nghĩa là giải cứu người bị tội thống khổ tot cùng.
Còn "báo hiểu", đó là sự báo đáp, đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ (Ngô Thị Lan Anh & các cộng sự, 2020). Lễ Vu Lan báo hiếu trùng với Tết Trung nguyên của người Hoa và cũng trùng hợp với ngày Ram tháng Bảy (âm lịch) Xá tội vong nhân của người Việt Nam và một số nước Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, Rằm tháng Bảy là ngày mở cửa ngục, ân xá cho các vong nhân nên có lễ cúng cô hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nơi nương tựa, không có thân 16 nhân trên dương thê đê thờ cúng, và là ngày mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sanh vê cảnh giới an lành. N Vào "tháng cô hon" (tháng 7 âm lịch), người Việt Nam, người Trung ^ W Quốc theo phong tục dân gian cho rằng là tháng không may mắn và có những điều kiêng ky, cũng như là khuyến khích ăn chay và làm việc từ thiện.
Ở Việt Nam, tháng Bảy âm lịch cũng bị nhiều coi là thời gian xui xẻo nhất trong năm và phải kiêng ky nhiều thứ. Có ý kiến cho rằng quan niệm này không có trong phong tục của người Việt (Thích Thiện Hạnh, 2019). Trong văn hóa Trung Hoa, ngày ram tháng Bay âm lịch thuộc Tiết Trung Nguyên va được gọi là Ngày ma (hồn người chết) và tháng thứ bảy nói chung được coi là Tháng ma (P8 R, Quỷ nguyệt), trong đó những con ma va linh hồn, bao gồm cả của tô tiên đã qua đời, đến từ các cõi âm. Cùng với lễ Thanh minh (vào mùa xuân) và Trùng cửu (vào mùa thu), con chau con sống tỏ lòng tôn kính đối với tô tiên đã qua đời của họ, trong Lễ hội hồn ma, người chết được cho là về thăm những người sông (Xing Guang, 2005).
Như vậy lễ Vu Lan báo hiếu có từ rất sớm, 14 ngày lễ quan trọng của Phật giáo, được phổ biến ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, lễ Vu lan báo hiểu của đạo Phật đã hòa quyện với truyền thống tri ân, đền ơn đáp nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” trong văn hóa truyền thông của người Việt. Đến nay lễ Vu lan báo hiếu đã được đưa vào chương trình lễ nghi chính thức của đạo Phật và là lễ lớn thứ hai sau lễ Phật đản. Đây cũng là dịp bày tỏ sự tri ân sâu sắc đến ơn đất nước, ơn đồng bào, nhớ tới ân đức hy sinh cao cả của các bậc tiền bối, anh hùng liệt sỹ đã vị quốc vong thân vì hòa bình, hạnh phúc cho dân tộc.
Trong trường hợp ngày lễ Vu Lan và ngày xá tội vong nhân trùng một ngày, các chùa có thê kết hợp hai lễ này và cúng kính tại nhà. Trình tự cúng có thê được thực hiện theo các bước sau đây: 17 Cúng Phật: Chuẩn bị mâm cơm chay hoặc ngũ quả dé cúng Phật, thể hiện lòng tôn kính và thành kính đối với Đức Phật. Cúng thân linh: Sắp xếp một mâm cúng gồm rượu trắng, mũ 5 quan, trái cây tươi và hoa dé tưởng nhớ và tri ân các vị thần linh. Cúng gia tiên: Chuẩn bị mâm cúng chay hoặc mặn tùy theo quan điểm gia đình.
Đặt trên mâm các bát chén chứa thức ăn như cháo trắng, bánh kẹo và nhang dé cúng ông bà tổ tiên. Đồng thời, đặt cả quan áo tiền vàng đại diện cho công ơn và lòng thành kính của gia đình. Cúng chúng sinh: Sắp xếp chén muối và chén gạo, noi cháo trăng, nến và nhang dé cúng chúng sinh. Đây là cách thé hiện lòng từ bi và nhân ái đối với tất cả chúng sanh Với nguồn gốc như đã nói ở trên, Lễ Vu Lan chính là dịp để con cháu trong gia đình thé hiện lòng thành kính, hiếu thảo, đền đáp lại công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà và thé hiện lòng thành với tổ tiên.
Đây là ngày lễ đặc biệt, nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Ở Việt Nam, vào ngày lễ Vu Lan thường có nghi thức bông hồng cài áo. Đây là nghi thức khởi xướng bởi thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cuốn sách "Bông Hong Cài Áo" viết năm 1962. Những ai may mắn còn cha mẹ sẽ được cài bông hồng đỏ và một bông hồng trăng cho những ai cha mẹ đã đi vào cõi luân hồi.
Các tu sĩ mượn thân cha mẹ để pho độ chúng sinh, ho cai bông hồng màu vàng dé thé hiện lý tưởng cao quý này. Bông hồng được xem là vua các loại hoa, là biểu tượng của tình yêu, sự cao quí, ngát hương. Bông hồng cài trên ngực áo thể hiện những tình cảm tốt đẹp nhất, thiêng liêng nhất của người con dành cho cha mẹ mình (Ngô Thị Lan Anh & các cộng sự, 2020) 18 1. Nguồn gốc lễ Vu Lan Từ lễ “Giải thoát” khỏi địa ngục đau khổ của đạo Phật, lễ Vu Lan đã trở thành ngày lễ báo hiếu của tất cả người dân Việt Nam.
Xuất phát từ truyền thuyết về tôn giả Mục Kiền Liên, đệ tử xuất chúng của đức Phật đã cứu mẹ của mình ra khỏi địa ngục, Vu Lan là ngày lễ hăng năm để tưởng nhớ về ân đức sinh thành, đưỡng dục, hướng tâm về cha mẹ và ông bả tổ tiên. Theo đó, Kinh Vu Lan chép rang Mục Kién Liên đã tu luyện thành công nhiều phép than thông đến mức có thé dùng mắt thần nhìn khắp trời dat, ngài thấy me mình đã mat dang ở cõi địa ngục, bi doa day và đói khát khổ sở. Với lòng hiếu thảo của mình, Mục Kiền Liên đã đem cơm xuống tận địa ngục dé dâng mẹ, tuy nhiên do đói lâu ngày nên khi ăn mẹ ông đã dùng một tay che bát cơm của mình, không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ. Thấy vậy, Mục Kién Liên liền quay về tìm Phật dé hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu được mẹ, chỉ có cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được.
Ngày rằm tháng Bay là ngày thích hợp dé cung thỉnh chư tăng, hãy sam sửa lễ cúng vào ngày đó. Lam theo lời Phật, Mục Kiền Liên đã giải thoát cho mẹ. Phật cũng dạy rằng: Chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng nên làm theo cách này. Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.
Theo truyền thuyết, vào ngày thứ mười lăm, cõi thiên đàng, địa ngục và cối người trên dương thế mở cửa và cả tín đồ Đạo giáo và Phật giáo sẽ thực hiện các nghi lễ để chuyển hóa và giải oan khô của người quá cố. Trọng tâm cho tháng 7 âm hồn là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nơi mà theo truyền thống hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên, kéo dài ngay ca khi ông bà tổ tiên đã qua đời. Các hoạt động trong tháng này sẽ bao gồm việc chuẩn bị thực pham cúng dường nghi lễ, đốt hương, đốt giấy vàng mã, một dạng hiện vật 19 băng giấy như quan áo, vàng và hàng hóa khác dé cúng linh hồn của ông bà, Tổ tiên khi về thăm nhà. Bữa ăn được chuẩn bị chu đáo (thường là ăn chay) sẽ được phục vụ với các ghế trống cho mỗi người quá cố trong gia đình và đối xử với những người đã chết như thể họ vẫn đang còn sống.
Nhà nghiên cứu Xing Guang (2016) thông qua phân tích các nguồn tư liệu của Phật giáo nguyên thủy, kinh Nikaya và kinh Gamas, đã chứng minh rằng thực hành báo hiếu (lòng hiếu thảo) là thiện nghiệp chính trong giáo lý đạo đức của Phật giáo ngay từ khi đạo Phật mới ra đời. Thật vậy, Đức Phật khuyên con người phải tôn kính cha mẹ như đắng dang tối cao và là dang sáng tạo ra loài người, cha mẹ đã làm rất nhiều cho con cái. Từ đó, Đạo Phật dạy tín đồ của mình phải trả nợ cho cha mẹ băng cách phụng dưỡng và kính trọng cha mẹ, đó là báo hiếu (Filial piety). Đây là hành động được coi là đầu tiên của tất cả các hành động công đức, hoặc thiện nghiệp, trong đạo đức mà Đức Phật đã dạy con người.
Hơn nữa, theo giáo lý về nghiệp của Phật giáo, giết mẹ và giết cha được coi là hai trong số năm ác nghiệp nghiêm trọng nhất, và hậu quả là tái sinh ngay lập tức vào địa ngục. Phật giáo Đại thừa đã phát triển ý tưởng về lòng hiếu thảo hơn nữa và hình thành bốn món nợ và cần đáp lễ đối với bốn nhóm người - cha mẹ, chúng sinh, những người cai trị và Phật giáo - một lời day đã trở thành rất phô biến trong Phật giáo Trung Quốc và truyền bá sang các nước Đông Á khác (Xing Guang, 2016). Báo hiếu là một trong những khía cạnh quan trọng của giáo lý đạo đức Phật giáo nguyên thủy. Lòng hiểu thảo đã được thực hành bởi những Phật tử Ấn Độ trong thời kỳ đầu khi đạo Phật hình thành (1) Báo hiếu là trả ơn cha me; (2) Báo hiếu được thực hành như một chánh nghiệp thiện, là ruộng phước; (3) Báo hiếu được thực hành như Pháp, trật tự xã hội (Pháp là Dhamma có nghĩa là những gì Đức Phật đã Giác Ngộ, đã hiểu biết, đã thấu đáo vào thời điểm Giác Ngộ).