Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ PHÁT HIỆN CHẤT LIỆU TRONG ẢNH Chương này trình bày tổng quan về bài toán phát hiện chất liệu trong ảnh, đề cập đến hai vần đề chính là các đặc trưng ảnh của chất liệu và các độ đo tương ứng.1 Bài toán phát hiện chất liệu trong ảnh 1.1 Chất liệu trong ảnh Theo quan điểm thông thường, chất liệu chính là những đặc trưng cho một dạng vật chất cụ thể. Theo quan điểm khoa học công nghệ nhận dạng ảnh, chất liệu của một đối tượng chính là thành phần bao phủ bên ngoài của đối tượng đó, là thành phần không thể thiếu được trong mỗi đối tượng. Có rất nhiều chất liệu khác nhau như kính, vải, gỗ, nước, tuyết v. Chất liệu tồn tại khác nhau ở mỗi đối tượng khác nhau, chẳng hạn với những con vật thì chất liệu là những bộ lông; với con người chất liệu có thể là vải, da; với kính thì chất liệu cũng chính là kính, hay chất liệu của một toà nhà có thể là kính nếu tòa nhà có nhiều cửa được làm bằng chất liệu kính, chất liệu của một chiếc ô tô có thể là kính nếu ta chỉ xét ô tô với kính chắn gió v.
Như vậy phát hiện chất liệu cũng chính là phát hiện ảnh của chất liệu đó trong một bức ảnh. Như thế nội dung ảnh của một đối tượng chính là nội dung của chất liệu trong ảnh hay còn gọi là nội dung ảnh. Mà nội dung ảnh được thể hiện bởi các đặc trưng màu sắc, kết cấu, hình dạng. Nhưng trong hầu hết mọi chất liệu, nội dung ảnh được phản ánh bởi màu sắc và kết cấu mà thôi.2 Phát hiện chất liệu Cho trước một bức ảnh có thể tĩnh hoặc động, yêu cầu xác định xem trong bức ảnh đó có loại chất liệu mà ta cần quan tâm không, thậm chí là bao nhiêu chất liệu đó nằm trong bức ảnh.
Cách giải quyết bài toán Tư tưởng: Cho trước một ảnh của chất liệu, ta tìm trong ảnh cần xét (ảnh truy vấn) có ảnh của chất liệu đó hay không. Bằng cách đánh giá mức độ giống nhau của ảnh chất liệu cho trước với ảnh của chất liệu có trong ảnh. Nhưng đặc trưng của ảnh chất liệu chủ yếu là màu sắc, kết cấu, thông tin không gian, do đó giải quyết bài toán này bằng cách đối sánh các đặt trưng của ảnh chất liệu cho trước với các đặc trưng của ảnh. Một cách nôm na thì đây chính là một trường hợp đặc biệt của bài toán tra cứu ảnh dựa trên nội dung.
Và cũng lưu ý rằng yếu tố thời gian thực luôn luôn được quan tâm cho mỗi bài toán, mức độ cần thiết của nó tùy thuộc vào bài toán mà ta giải quyết, yếu tố này quyết định sự thành công hay thất bại của nhiều bài toán. Như vậy, bài toán phát hiện chất liệu bằng kỹ thuật Xử lý ảnh gồm hai pha chính: - Xác định và trích chọn các đặc trưng của chất liệu (vì mỗi loại chất liệu khác nhau sẽ được đặc tả bởi các đặc trưng khác nhau). - Đánh giá độ tương tự (độ giống) của chất liệu cần xét với các đặt trưng mà ta đã biết thông qua các đặc trưng mà ta đã trích chọn ở trên. Đó cũng chính là hai bài toán lớn trong lĩnh vực nhận dạng mẫu và thị giác máy.
Như đã nói ở trên, ảnh của chất liệu được ghi lại trong hình hoặc camera phần lớn được thể hiện bởi các yếu tố như: Màu sắc, kết cấu, hình dạng, thông 8 z tin không gian. Tuỳ thuộc mỗi một chất liệu sẽ có một đánh giá về đặc trưng riêng cho chúng. Bên cạnh đó sẽ có những hàm đánh giá độ tương tự tương ứng cho phù hợp.2 Các đặc trưng của chất liệu trong ảnh 1.1 Màu sắc Sự cảm nhận về màu là rất quan trọng đối với con người. Sự cảm nhận màu phụ thuộc vào cả yếu tố hai ánh sáng vật lý và việc xử lý phức tạp của thần kinh mắt (eye-brain) tức là nó phải tích hợp những thuộc tính kích thích và thực nghiệm.
Con người sử dụng thông tin màu sắc để phân biệt các đối tượng, chất liệu v. Mọi người đều biết màu là gì, nhưng sự mô tả chính xác và chi tiết về màu thì lại là một chuyện khác. Màu sắc luôn là chủ đề lớn trong các ngành khoa học khác nhau. Mặc dù vậy, một số vấn đề chủ yếu liên quan đến màu sắc, đặt biệt là trong cảm nhận màu của con người mà tại đó sự hoạt động của não đóng vai trò quan trọng vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ.
Những thuộc tính cấp thấp về cảm nhận màu của con người cũng đã được mô hình hoá thành công trong khuôn khổ phạm vi của các thiết bị đo màu. Trong khuôn khổ này ta thấy rằng các phương pháp thống kê là công cụ đầy sức mạnh cho việc phân tích và mô tả dữ liệu hình ảnh. Một ảnh màu điển hình được lấy từ Camera số hoặc download từ Internet thường có ba kênh màu (ảnh xám chỉ có một kênh), những giá trị của dữ liệu ba chiều này từ ảnh màu có thể cho ta biết vị trí của điểm ảnh trong không gian màu. Những điểm ảnh có cùng giá trị ví dụ (1, 1, 1) cho những màu khác nhau trong những không gian màu khác nhau.
Như vậy mô tả đầy đủ của một ảnh màu điển hình gồm thông tin không gian hai chiều với điểm ảnh trong vùng không gian này và dữ liệu màu ba chiều với điểm ảnh màu 9 z trong không gian mà chúng ta đang đề cập. Ở đây giả thiết không gian màu là cố định, bỏ qua thông tin không gian, thông tin màu trong ảnh có thể coi như là tín hiệu ba chiều đơn giản. Nếu ta xem thông tin màu của ảnh là tín hiệu một, hai, hoặc ba chiều đơn giản thì việc phân tích các tín hiệu sử dụng ước lượng mật độ xác suất là một cách dễ nhất để mô tả thông tin màu của ảnh. Biểu đồ màu là công cụ đơn giản nhất, những cách khác mô tả thông tin màu gồm đại diện màu, moment màu, vector kết dính màu v.2 Kết cấu Nhưng thật không may có những ảnh có cùng phân phối màu nhưng chúng hoàn toàn khác nhau như bầu trời và nước biển hay lá cây và cỏ v.
Trong các trường hợp như vậy, cần phải tính toán đặc trưng kết cấu của ảnh. Kết cấu được sử dụng rộng rãi và rất trực quan nhưng không có định nghĩa chính xác bởi tính biến thiên rộng của nó. Có rất nhiều cách để mô tả kết cấu: Những phương pháp thống kê thường sử dụng tần số không gian, ma trận biến cố, tần số biên v. Từ đó những đặc điểm như năng lượng, entropy, độ tương phản, độ thô, tính đồng nhất, tính tương quan, đẳng hướng, pha, độ ráp đã được nhận ra.
Những phương pháp mô tả kết cấu này tính toán các thuộc tính kết cấu khác nhau và hoàn toàn phù hợp nếu cỡ của kết cấu gốc có thể được so sánh với cỡ của điểm ảnh. Một cách cơ bản, các phương pháp biểu diễn kết cấu có thể phân làm hai loại chính: phương pháp cấu trúc và phương pháp thống kê. Các phương pháp cấu trúc bao gồm các phép toán hình thái học và đồ thị liền kề, mô tả kết cấu bởi việc đồng nhất cấu trúc ban đầu và quy tắc sắp xếp của chúng. Chúng hiệu quả nhất khi áp dụng vào những kết cấu rất đều đặn.
Phương pháp thống kê, gồm: Fourier power spectra, co-occurrence matrices, shift-invariant principal 10 z component analysis (SPCA), Tamura feature, Wold decomposition, Markov random field, fractal model và kỹ thuật multi-resolution filtering như Gabor and wavelet transform mô tả kết cấu bằng phân phối thống kê của cường độ điểm ảnh.3 Hình dạng Định nghĩa hình dạng của đối tượng thường là rất khó. Hình dạng thường được mô tả bằng lời nói hoặc hình vẽ, và mọi người thường sử dụng thuật ngữ như tròn, méo v. Xử lý hình dạng dựa trên máy tính đòi hỏi rất phức tạp, trong khi rất nhiều phương pháp mô tả hình dạng thực tế đang tồn tại nhưng không có một phương pháp chung nào cho mô tả hình dạng. Có hai kiểu đặc điểm hình dạng chính thường được sử dụng: Đặc điểm dựa trên biên, đặc điểm dựa trên vùng.
Đặc điểm dựa trên biên chỉ sử dụng đường bao ngoài của hình dạng trong khi đó đặc điểm vùng sử dụng toàn bộ vùng của hình dạng. Ví dụ những đặc điểm biên bao gồm mã xích, mô tả Fourier, những đường viền hình học như uống cong, chiều dài biên v. Đặc điểm vùng như số chu trình, độ lệch tâm v.4 Mối quan hệ không gian Mối quan hệ không gian đặc trưng cho sự sắp xếp các đối tượng bên trong một bức ảnh. Mối quan hệ giữa hai đối tượng có thể được phân loại một cách rõ ràng như là hướng hoặc tô pô hình học.
Mối quan hệ hướng dựa vào vị trí liên quan và khoảng cách mêtric giữa hai đối tượng trong ảnh. Mặt khác, mối quan hệ tô pô hình học không dựa vào khoảng cách thu được giữa hai đối tượng mà dựa vào khái niệm lý thuyết tập hợp như giao, hợp, kết nối v. *** Một trong những vấn đề thách thức to lớn để giải quyết bài toán phát hiện hay nhận dạng đối tượng là việc chọn lựa và sự biểu diễn các đặc trưng này.3 Các độ đo sự tương tự thường sử dụng Bên cạnh đó, những độ đo tương tự cũng là yếu tố đóng vai trò cốt yếu trong việc giải quyết bài toán được đặt ra. Những độ đo lý tưởng phải có một số thuộc tính sau: - Độ đo tự tương quan: Đặc điểm khoảng cách giữa hai ảnh là lớn chỉ khi những ảnh không tương tự và ngược lại khoảng cách giữa hai ảnh là nhỏ nếu chúng tương tự.
Ảnh thường được mô tả trong không gian đặc điểm và sự tưong tự giữa các ảnh được đo bởi những độ đo khoảng cách trong không gian đặc điểm. Số thuộc tính của không gian biểu diễn ảnh và những đặc tính của những đặt điểm vectơ mô tả ảnh là rất quan trọng trong việc cải thiện một số thuộc tính độ tương tự trực quan của những độ đo tương tự được đề xuất. - Hiệu quả: Sự đo đạc cần phải được tính toán nhanh để nhanh chóng đưa ra kết quả. Vì hầu hết các ứng dụng của bài toán phát hiện đối tượng đều phải được thực hiện trong thời gian thực.
Vì thế đánh giá độ phức tạp tính toán là rất quan trọng. - Hệ đo: Vấn đề khoảng cách tương tự là có nên là hệ mét hay không vẫn chưa được quyết định chính thức khi sự nhìn nhận của con người là rất phức tạp và chưa được hiểu một cách đầy đủ.