Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực phẩm nội địa, cung cấp phân bón cho trồng trọt và hướng tới xuất khẩu. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi thường xuyên đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp. Các bệnh lý thuộc hội chứng hô hấp có tốc độ lây lan nhanh, tác động kéo dài lên thể trạng vật nuôi, mầm bệnh tồn tại lâu trong cơ thể dẫn đến chi phí điều trị lớn và thời gian hồi phục kéo dài. Đối với lợn rừng nuôi nhốt bán hoang dã, việc kiểm soát và điều trị hội chứng này gặp nhiều trở ngại do đặc tính nhút nhát và tính hoang dã của con vật.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thú y của sinh viên Vũ Đức Vinh (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, khóa học 2010 – 2014, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Văn Phùng) tập trung giải quyết vấn đề kiểm soát bệnh lý hô hấp trên đối tượng lợn rừng thông qua việc thực hiện hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định tỷ lệ lợn rừng bị nhiễm bệnh đường hô hấp tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh Công ty Nghiên cứu và Phát triển (NC&PT) động thực vật bản địa (thuộc Công ty Cổ phần Khai khoáng miền núi).
  2. Khảo nghiệm hiệu quả của một số phác đồ điều trị làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc điều trị hội chứng bệnh đường hô hấp tại trại.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn rừng từ giai đoạn sơ sinh đến 8 tháng tuổi (bao gồm lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa và lợn choai).
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa, đóng tại địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập tốt nghiệp và theo dõi thực địa năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tổng quan hệ thống lý thuyết về giải phẫu, sinh lý bộ máy hô hấp của gia súc và dịch tễ học các bệnh lý hô hấp truyền nhiễm thường gặp trên lợn:

  • Cơ sở sinh lý: Quá trình hô hấp bao gồm ba giai đoạn: hô hấp ngoài (trao đổi khí ở phế nang), hô hấp trong (sử dụng oxy ở mô bào) và quá trình vận chuyển khí O₂/CO₂. Tần số hô hấp sinh lý bình thường của lợn là 10 – 20 lần/phút (so với bò: 12 – 20 lần/phút, ngựa: 8 – 10 lần/phút); khi mắc bệnh lý đường hô hấp, tần số này biến đổi rõ rệt.
  • Các tác nhân gây bệnh chính:
    • Viêm phổi do virus: Virus cúm lợn (Orthomyxoviridae typ A, các phân typ H1N1, H3N2, H1N2... gây bệnh nặng ở lợn 1 – 5 tuần tuổi với tỷ lệ chết có thể tới 40%); Virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS - virus Lelystad thuộc họ Togaviridae, làm biến đổi phế nang, gây nhục hóa phổi và suy giảm miễn dịch).
    • Viêm phổi do vi khuẩn: Vi khuẩn tụ huyết trùng (Pasteurella multocida gây viêm thùy phế và hoại tử mô phổi); vi khuẩn suyễn lợn (Mycoplasma hyopneumoniae gây viêm phổi địa phương, tổn thương dạng phổi kính sang phổi tụy tạng hóa); vi khuẩn viêm phổi – màng phổi (Actinobacillus pleuropneumoniae gây viêm hoại tử, tích dịch fibrin và dính sườn ở lợn 2 – 5 tháng tuổi).
    • Bệnh do ký sinh trùng: Giun phổi lợn (Metastrongylus) ký sinh ở phế quản và ấu trùng giun đũa (Ascaris suum) di hành qua nhu mô phổi.

Về phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học lâm sàng: Giám sát toàn bộ đàn lợn rừng nuôi tại trại bằng phương pháp quan sát hàng ngày vào các thời điểm sáng sớm và chiều tối; ghi nhận các triệu chứng sốt, trạng thái vận động, tiếng ho, mức độ khó thở, tần số hô hấp và tư thế ngồi thở.
  • Phương pháp khảo nghiệm phác đồ điều trị: Theo dõi thực nghiệm các nhóm lợn mắc bệnh hô hấp được cách ly điều trị bằng các phác đồ kháng sinh phối hợp kết hợp thuốc trợ sức, vitamin B1 và kỹ thuật hộ lý; ghi nhận các chỉ tiêu: tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian khỏi bệnh trung bình, tỷ lệ tái nhiễm sau điều trị và hiệu quả can thiệp lần hai.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu điều tra tự nhiên - kinh tế xã hội do Ủy ban nhân dân xã Tức Tranh cung cấp; số liệu kỹ thuật, sổ sách ghi chép phối giống, theo dõi đàn và số liệu điều trị thực tế trên tổng đàn 250 con lợn rừng tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận được cấu trúc thành hai phần chính: Công tác phục vụ sản xuất và Chuyên đề nghiên cứu khoa học.

Phần I: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh việc khảo sát địa bàn thực tập và tham gia trực tiếp vào các quy trình chăn nuôi, thú y tại cơ sở.

Xã Tức Tranh là xã trung du miền núi thuộc huyện Phú Lương, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 30 km, có mạng lưới giao thông gồm tuyến đường huyện lộ rải nhựa dài 3,6 km và đường liên thôn bê tông. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.559,35 ha, dân số gồm 2.050 hộ với 8.905 nhân khẩu (hơn 80% sản xuất nông nghiệp). Cơ cấu đất đai của địa bàn được phân bổ như sau:

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất nông nghiệp 1.211,30 47,33
Đất lâm nghiệp 766,67 29,96
Đất ở 423,30 16,54
Đất công trình phúc lợi xã hội 153,08 5,98
Đất chưa sử dụng 5,00 0,20
Tổng diện tích đất tự nhiên 2.559,35 100,00

Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã của Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa được thành lập năm 2006 với tổng diện tích 6 ha, gồm các phân khu chức năng: nhà ở và kho (0,05 ha), trồng cây ăn quả như bưởi, ổi (2,0 ha), khu chăn nuôi lợn (0,35 ha), đất trồng cỏ (2,5 ha), khu chăn nuôi hươu nai (0,1 ha với 25 con hươu Sao lấy nhung và con giống), khu nuôi ngựa (1,0 ha với 35 con ngựa Bạch sinh sản và nấu cao). Đàn lợn của trại có quy mô 250 con, cơ cấu gồm 3 đực giống, 25 nái sinh sản, 8 nái hậu bị cùng lợn con và lợn thịt.

Công tác thú y định kỳ tại trại áp dụng phun sát trùng Haniodine 10% (1 lần/tuần trong điều kiện bình thường; 2 lần/tuần bằng Haniodine 10%, Navet-iodine hoặc Benkocid khi có áp lực dịch bệnh). Kết quả thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn trong thời gian thực tập đạt:

  • Vắc xin Dịch tả (chủng C nhược độc đông khô, tiêm bắp 2 ml sau gốc tai): 140 con (3 đực, 19 nái, 118 thịt).
  • Vắc xin Lở mồm long móng (nhũ dầu, tiêm bắp 2 ml): 145 con (3 đực, 19 nái, 123 thịt).
  • Vắc xin Tai xanh (PRRS): 120 con (3 đực, 8 nái, 109 thịt).
  • Vắc xin Lepto: 165 con (3 đực, 20 nái, 142 thịt).

Bên cạnh công tác phòng bệnh, sinh viên tham gia điều trị 3 chứng bệnh phổ biến: bệnh lợn con phân trắng (điều trị 50 con, khỏi 45 con, đạt 90,0% bằng Colistin, Berberin hoặc Enrotis); bệnh tiêu chảy (điều trị 60 con, khỏi 51 con, đạt 85,0% bằng Mafluquine, BIO DOC, Berberin); hội chứng đường hô hấp (điều trị 106 con, khỏi 102 con, đạt 96,22%).

Về công tác giống và chăm sóc nuôi dưỡng, tác giả thực hiện phối giống trực tiếp cho 10 lợn nái (đạt thụ thai 9 con, tỷ lệ 90%), bình tuyển 20 đực giống và 30 nái hậu bị cung cấp cho thị trường; trực tiếp chăm sóc 10 nái hậu bị, 10 nái chửa, 3 lợn đực và 6 đàn lợn thịt (150 con) theo định mức khẩu phần nghiêm ngặt (nái chửa kỳ I: 0,6 kg tinh + 0,06 kg đậm đặc + 2,0 kg thức ăn xanh; kỳ II tăng 30% thức ăn tinh lên 0,8 kg tinh + 0,08 kg đậm đặc + 1 – 1,5 kg thức ăn xanh; lợn thịt trưởng thành ăn 0,5 – 0,7 kg tinh kết hợp thức ăn thô xanh băm nhỏ nấu chín).

Phần II: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề đi sâu phân tích tình hình dịch tễ, triệu chứng và hiệu lực phác đồ điều trị hội chứng hô hấp trên đàn lợn rừng từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi.

Nội dung nghiên cứu xác lập các tiêu chí theo dõi:

  • Điều tra tỷ lệ mắc bệnh hô hấp phân chia theo các nhóm lứa tuổi (lợn con sơ sinh theo mẹ, lợn con cai sữa, lợn choai đến 8 tháng tuổi) nhằm xác định giai đoạn mẫn cảm cao nhất.
  • Khảo sát biến động tỷ lệ mắc theo các tháng thực tập để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, chuyển mùa nóng ẩm sang lạnh khô.
  • Hệ thống hóa các biểu hiện lâm sàng đặc trưng: giai đoạn khởi phát con vật ủ rũ, rời đàn, sốt cao; giai đoạn toàn phát xuất hiện ho (ho khan, ho từng tiếng hoặc ho cơn kéo dài vào sáng sớm và chiều tối), khó thở, thở thể bụng, hóp bụng và ngồi thở theo tư thế chó ngồi.
  • Khảo nghiệm so sánh các phác đồ điều trị:
    • Phác đồ 2: Sử dụng kháng sinh Pneumotic tiêm bắp buổi sáng (liều 1 ml/5 – 7 kg thể trọng) kết hợp Kanatialin tiêm bắp buổi chiều (liều 1 ml/6 – 10 kg thể trọng), liệu trình 3 – 5 ngày liên tục, kết hợp bổ sung vitamin B1.
    • Phác đồ 3: Sử dụng thuốc Nova Tylospec (thành phần chứa Tylosin, Spectinomycin, Dexamethasone sodium phosphate) tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày, liệu trình 4 – 5 ngày, kết hợp bổ sung vitamin B1.
    • Biện pháp hộ lý đi kèm: Vệ sinh tẩy uế chuồng trại, che chắn tránh gió lùa, bổ sung rơm lót chuồng giữ ấm, kiểm soát khẩu phần thức ăn tinh ở mức vừa phải để tránh chèn ép cơ học lên xoang ngực và phổi.
  • Đánh giá tỷ lệ tái phát bệnh sau liệu trình và hiệu quả đáp ứng điều trị lần hai, kèm theo hạch toán chi phí thuốc thú y bình quân trên một đầu lợn điều trị.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận ghi nhận các kết quả can thiệp kỹ thuật và điều trị thực nghiệm có số liệu xác thực tại cơ sở:

Loại bệnh điều trị Số con điều trị Số con khỏi Tỷ lệ khỏi (%)
Bệnh lợn con phân trắng 50 45 90,00
Hội chứng tiêu chảy 60 51 85,00
Hội chứng đường hô hấp 106 102 96,22

Hiệu quả xử lý hội chứng hô hấp trên lợn rừng đạt mức cao (khỏi 102/106 con, chiếm 96,22%) khi áp dụng phác đồ kháng sinh đặc hiệu phối hợp hai thời điểm (Pneumotic buổi sáng và Kanatialin buổi chiều) hoặc kháng sinh phổ rộng chứa Tylosin và Spectinomycin kết hợp kháng viêm Dexamethasone (Nova Tylospec). Yếu tố quyết định tỷ lệ khỏi bệnh nằm ở việc kết hợp chặt chẽ giữa dùng thuốc với các biện pháp hộ lý: phát hiện sớm ở lứa tuổi mẫn cảm, giữ ấm chuồng trại bằng rơm rạ, giảm mật độ và điều chỉnh lượng thức ăn tinh tránh gây căng dạ dày chèn ép phổi.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã:

  • Cung cấp dẫn liệu dịch tễ học và lâm sàng thực tế về hội chứng bệnh đường hô hấp trên giống lợn rừng nuôi nhốt bán hoang dã tại vùng miền núi Thái Nguyên, đối tượng vật nuôi có đặc tính thần kinh nhạy cảm, dễ bị stress và khó thao tác tiêm truyền hơn lợn nhà.
  • Kiểm chứng và xác lập hai phác đồ điều trị kháng sinh an toàn, hiệu quả cao kèm quy trình hộ lý phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng thực tế của trại, giúp hạn chế tỷ lệ chết và giảm thiểu tổn thất kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế tại địa bàn:

  • Thời gian thực tập tốt nghiệp ngắn hạn nên số liệu theo dõi diễn biến dịch tễ chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ các mùa trong năm.
  • Cơ sở vật chất của trại chăn nuôi bán hoang dã còn thiếu thốn: chưa có hệ thống cấp nước uống tự động, thiếu hệ thống làm mát chuồng nuôi trong mùa hè, kho bảo quản chế biến thức ăn chưa hoàn thiện và khu vực nuôi cách ly kiểm dịch chưa được củng cố triệt để.

Từ các hạn chế trên, tác giả đề xuất các hướng giải quyết và kiến nghị:

  • Trại cần đầu tư nâng cấp đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật: xây dựng kho chứa thức ăn đạt chuẩn, lắp đặt hệ thống cấp nước uống tự động và hệ thống làm mát chuồng trại nhằm giảm thiểu stress nhiệt cho đàn lợn.
  • Mở rộng, củng cố khu cách ly kiểm dịch gia súc mới nhập hoặc lợn mắc bệnh để ngăn ngừa nguy cơ mầm bệnh lây lan diện rộng trong quần thể bán hoang dã.
  • Cần tiếp tục theo dõi biến động bệnh học đường hô hấp theo mùa và thực hiện kháng sinh đồ định kỳ nhằm phát hiện sớm hiện tượng nhờn thuốc của vi khuẩn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Chăn nuôi Thú y đang thực hiện đồ án, khóa luận hoặc đề tài nghiên cứu liên quan đến dịch tễ và bệnh học truyền nhiễm trên đàn lợn.
  • Kỹ thuật viên, cán bộ thú y tại các trang trại chăn nuôi lợn rừng, lợn lai hoặc động vật bán hoang dã; đặc biệt là nội dung tham khảo về kỹ thuật hộ lý chuồng trại, định lượng khẩu phần thức ăn theo từng giai đoạn sinh lý (nái chửa kỳ I, kỳ II, lợn đực giống) và phác đồ điều trị phối hợp kháng sinh để khống chế hội chứng hô hấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu diện tích đất và quy mô các đối tượng vật nuôi tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã được phân bổ như thế nào?
Trại được xây dựng năm 2006 trên diện tích 6 ha, gồm: nhà ở và kho 0,05 ha; cây ăn quả 2 ha; khu chăn nuôi lợn 0,35 ha; đất trồng cỏ 2,5 ha; khu nuôi hươu nai 0,1 ha; khu nuôi ngựa 1,0 ha. Về vật nuôi, trại duy trì 25 con hươu Sao, 35 con ngựa Bạch và 250 con lợn rừng (gồm 3 đực giống, 25 nái sinh sản, 8 nái hậu bị, cùng đàn lợn con và lợn thịt).

2. Công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn tại cơ sở trong đợt thực tập đạt số lượng bao nhiêu con cho từng loại bệnh?
Tác giả đã trực tiếp tham gia tiêm phòng với kết quả cụ thể: vắc xin Dịch tả tiêm 140 con (3 đực, 19 nái, 118 thịt); vắc xin Lở mồm long móng tiêm 145 con (3 đực, 19 nái, 123 thịt); vắc xin Tai xanh tiêm 120 con (3 đực, 8 nái, 109 thịt); vắc xin Lepto tiêm 165 con (3 đực, 20 nái, 142 thịt).

3. Đàn lợn rừng mắc hội chứng bệnh đường hô hấp tại trại biểu hiện các triệu chứng lâm sàng đặc trưng nào?
Lợn bệnh ban đầu rời đàn, ủ rũ nằm ở góc chuồng, ăn uống giảm dần, sốt cao. Tần số hô hấp tăng nhanh, thở khó, thở dốc và ngồi theo tư thế chó ngồi để thở. Về sau, lợn ho nhiều vào chiều tối và sáng sớm, có thể ho từng tiếng hoặc ho từng hồi kéo dài.

4. Phác đồ điều trị hội chứng hô hấp được áp dụng mang lại kết quả ra sao?
Trại áp dụng các phác đồ: dùng Pneumotic tiêm bắp buổi sáng (1 ml/5 – 7 kg thể trọng) kết hợp Kanatialin tiêm buổi chiều (1 ml/6 – 10 kg thể trọng) trong 3 – 5 ngày; hoặc dùng Nova Tylospec (chứa Tylosin, Spectinomycin, Dexamethasone) tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng/ngày trong 4 – 5 ngày; cả hai phác đồ đều kết hợp tiêm vitamin B1, lót rơm giữ ấm và che kín chuồng. Kết quả điều trị 106 con, chữa khỏi 102 con, đạt tỷ lệ 96,22%.

5. Khẩu phần ăn hàng ngày của lợn nái chửa tại trại được quy định khác nhau giữa kỳ I và kỳ II như thế nào?
Ở giai đoạn chửa kỳ I, lợn nái được cho ăn 0,6 kg thức ăn tinh/con, 0,06 kg đậm đặc/con và 2,0 kg thức ăn thô xanh/con. Sang giai đoạn chửa kỳ II, do bào thai phát triển nhanh, khẩu phần thức ăn tinh được tăng thêm 30%, đạt 0,8 kg thức ăn tinh/con, 0,08 kg đậm đặc/con và 1 – 1,5 kg thức ăn thô xanh. Trường hợp lợn gầy hoặc mùa đông nhiệt độ dưới 15°C, khẩu phần thức ăn tinh được bổ sung thêm 20%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Đức Vinh đã hoàn thành việc khảo sát điều kiện chăn nuôi tại xã Tức Tranh và Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở bệnh học đường hô hấp, đồng thời kiểm chứng thực tế hiệu quả điều trị hội chứng này trên 106 lợn rừng mắc bệnh với tỷ lệ chữa khỏi đạt 96,22% nhờ phối hợp kháng sinh phù hợp và kỹ thuật hộ lý chuồng trại chặt chẽ. Các phát hiện và số liệu kỹ thuật trong công trình là tư liệu thực nghiệm hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh và quản lý chăn nuôi lợn rừng bán hoang dã tại địa phương.