CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Paramignya 1. Vị trí phân loại và phân bố Chi Paramignya Wight. Một số loài thuộc chi Paramignya đã được sử dụng trong y học cổ truyền của một số nước, như rễ của loài Paramignya trimera (Oliv.) Guillaum là một vị thuốc dân gian của Việt Nam dùng để chữa bệnh viêm gan và tiểu đường [11],[15] hoặc người Thái dùng thân của P.
grithii để điều trị viêm mũi [7]. Ở Việt Nam, theo các tài liệu đã công bố cho thấy có 7 loài thuộc chi Paramignya, bao gồm: Paramignya armata Oliv. Andamanica King, 1874 – Cựa gà, Gai xanh, Quýt gai; Paramignya griffithii Hook. F, 1875 – Xáo Griffith; Paramignya hispida Pierre ex Guillaum, - Cựa gà nhám; Paramignya monophylla Wight, 1840, - Xáo một hoa; Paramignya petelotii Guillaum, 1944 – Xáo petelot; Paramignya scandens (Griff.) Craib, 1926 – Xáo leo; Paramignya trimera (Oliv.
Thành phần hóa học Cho đến nay, các nghiên cứu về thành phần hóa học thường tập trung vào các bộ phận khác nhau (rễ, thân, vỏ, vỏ thân, lá, cành và quả) của bốn loài P. tirucalla, đặc biệt là rễ và thân của P. Các nhóm chất được phân lập từ chi Paramignya là coumarin và coumarin glycosid [9],[10],[11],[12],[17],[18],[19], saponin tirucallan và tirucallan [4],[5],[6],[7],[14] acridon alkaloid [11],[18], flavanon, flavon và flavanon tirucalla [6],[7],[8], phenol [8],[11],[20], chromen [7],[11],[17], megastigman [8] và một số hợp chất khác [8],[9]. Các hợp chất được trình cụ thể ở bảng 1.
Các hợp chất phân lập từ các loài thuộc chi Paramignya STT Tên hợp chất Loài TLTK Coumarin và coumarin glycosid 1 7-Hydroxycoumarin P. trimera [12] 7-hydroxycoumarin 6 Paratrimerin A P. trimera [11] 14 8-Geranyl-7-hydroxycoumarin P. trimera [17] 15 6-(7-Hydroperoxy-3,7-dimethylocta-2,5- P.
trimera [17] dienyl)-7-hydroxycoumarin 4 16 Luvangetin P. monophylla [9] 19 5-Hydroxy-8,8-dimethyl-10-(3′,7′- P. monophylla [9] dimethyocta-1′,6′-dimethylocta-1′,6′-dien-3′- yl)pyranocoumarin 20 5-Methoxy-8,8-dimethyl-10-(3′,7′- P. monophylla [9] dimethyocta-1′,6′-dimethylocta-3′-dien-3′- yl)pyranocoumarin 21 5-Methoxy-8,8-dimethyl-10-(7-hydroxy-3,7- P.
monophylla [10] dimethylocta-1,5-dien-3-yl)pyranocoumarin 22 5-Hydroxy-8,8-dimethyl-10-(7-hydroxy-3,7- P. monophylla [10] dimethylocta-1,5-dien-3-yl)pyranocoumarin Tirucallan và saponin tirucallan 23 Flindisson P. monophylla [14] 25 Tirucalla-7,24-dien-3β,23-diol P. monophylla [14] 26 Tirucalla-7,24-dien-3β,21,23-triol P.
monophylla [14] 27 3-Oxotirucalla-7,24-dien-21,23-diol P. monophylla [14] 28 3-Oxotirucalla-7,24-dien-23-ol P. monophylla [14] 29 24,24-Dimethyllanosta-25-en-3β-ol P. monophylla [6] 30 3-Oxotirucalla-7,24-dien-21-al P.
scandens [5] Acridon alkaloid 38 Citrusinin I P. trimera [11],[18] 39 Glycocitrin III P. trimera [11] Flavanon, flavon và flavanon glycosid 45 Amoradicin P. grithii [7] 46 3′,4′-Dihydroxy-7-methoxy-8-(3-methylbut- P.
grithii [7] 2-enyl)-furano-(4′’,5′’:6,5)-flavanon 47 3′,4′-Dihydroxy-7-methoxy-8-(3-methylbut- P. grithii [7] 2-enyl)-2′’’-(1-hydroxy-1-methylethyl)- furano-(4′’,5′’:6,5)-flavanon 48 Carpachromen P. scandens [8] Phenolic 51 Methyl 4-hydroxybenzoat P. trimera [20] 6 52 Methyl p-€-coumarat P.
trimera [20] 53 Methyl syringat P. trimera [20] 55 €-Methyl-3-(4′-hydroxy-3′,5′- P. trimera [20] dimethoxyphenyl)acrylat 56 Methyl ferulat P. trimera [20] 57 Methyl 4-hydroxy-3-methoxybenzoat P.
trimera [20] 58 Acid vanillic P. trimera [11] 59 Trans-N-p-coumaroyl tyramin P. scandens [8] Chromen 60 Daedalin A P. grithii Megastigman glycosid 62 Gusanlungionosid C P.
scandens [8] Các hợp chất khác 64 Methyl isolimonat P. scandens [8] 65 Syringaresinol di-O-β-D-glucopyranosid P. Coumarin và coumarin glycosid Các hợp chất coumatin và dẫn xuất 1 - 22 (Hình 1.1) là thành phần chính trong các loài P. Các nghiên cứu cho thấy, hầu hết các coumarin 1 - 5 và 8 - 22 đều ở dạng tự do [9],[10],[11],[12],[17],[18],[19], trong khi đó hợp chất 7 6 và 7 ở dạng dimeric coumarin glycosid liên kết với monoterpen [12].
Ngoài ra, các hợp chất đã phân lập được đều có nhóm thế gắn ở vị trí số 6 và 7 trong công thức cấu tạo. Công thức cấu tạo của các hợp chất 1 – 22 1. Saponin tirucallan và tirucallan Các nghiên cứu về thành phần hóa học đã báo cáo các cấu trúc điển hình tirucallan và saponin tirucallan 23 - 37 (Hình 1.2), bao gồm bảy tirucallan 23 - 29 từ quả, lá và thân của các loài P. monophylla [6],[14], một tirucallan 30 từ phần dưới đất của loài P.
grithii [7], bảy dẫn xuất glycosid 31 - 37 từ thân và lá của loài P. Trong các saponin tirucallan, liên kết giữa aglycon (13S,14R,17S,20S)-lanostan và gốc đường β-D-glycopyranosyl qua cầu nối O-acetyl và / hoặc liên kết glycosid ở carbon C-25 trong các hợp chất 33 - 37 có thể là một điểm đặc trưng của loài P. scandens và các loài khác trong chi Paramignya [5]. Công thức cấu tạo của các hợp chất 23 – 37 1.
Acridon alkaloid Các alkaloid, bao gồm bảy hợp chất 38 – 44 (Hình 1.3), chỉ được tìm thấy ở loài P. trimera với khung acridon đặc trưng [11],[18]. Cấu trúc cấu tạo của các hợp chất này có một số đặc điểm chung, bao gồm hệ vòng ABX ở H-6, H-7 và H-8, methyl hóa nhóm amin, nhóm hydroxyl ở C-1 và C-5. Công thức cấu tạo của hợp chất 38 – 44 1.
Flavanon, flavon và flavanon glycosid Các flavonoid, bao gồm ba flavanon, hai flavon, và một dẫn xuất glycosyl 45 - 50 đã được phân lập (Hình 1. Trong đó, hai flavanon mới 46 và 47 cùng với một amoradicin 45 đã biết đã được phân lập từ dịch chiết methanol của thân P. grithii trong khi một flavanon diglycosid atriplisid B (50) được tách từ dịch chiết nước của cành và lá P. scandens, flavon 48 – 49 được phân lập từ dịch chiết dầu và chloroform của thân cây P.
Ngoài ra, các nghiên cứu cho thấy, flavonoid không được tìm thấy trong lá cây thuốc nhiệt đới P. Công thức cấu tạo của hợp chất 45 – 50 1. Phenolic, chromen và megastigman glycosid Các hợp chất 51 - 57 được phân lập từ cao chiết cloroform của thân loài P. Các hợp chất này đều có cấu trúc 1246-tetrasubin.
Bên cạnh đó, acid vanillic (58) và trans-N-p-coumaroyl tyramin (59) được phân lập từ cao chiết methanol của loài P. trimera và các hợp chất phenolic khác (60 – 61) được phân lập từ cao chiết nước của loài P. Các glycosid megastigman 62 và 63 được phân lập từ cao chiết nước của cành và lá khô P. Công thức cấu tạo của các hợp chất 51 – 63 1.
Các hợp chất khác Các hợp chất như limonoid (methyl isolimonat, 64), lignin (glycosid syringaresinol di-O-β-D-glucopyranosid, 65), nucleosid (adenosin, 66) cũng được tìm thấy ở cành và lá khô loài P. Ngoài ra, một hợp chất hóa học phổ biến trong dược liệu là β-sitosterol (67) được phân lập từ vỏ thân của loài P. Công thức cấu tạo của các hợp chất 64 – 67 1. Tác dụng gây độc tế bào Theo nghiên cứu của Phan và cộng sự, hai dẫn xuất tirucallan mới, paramignyol A và B (31 - 32) được phân lập từ thân và lá của loài P.
scandens có tác dụng gây độc tế bào trên dòng tế bào ung thư ở người: KB (ung thư biểu mô biểu bì), SK -Mel-2 (u ác tính), LU-1 (ung thư biểu mô tuyến phổi) và MCF-7 (ung thư vú) [4]. 11 Bốn coumarin 1 – 4, bốn acridon alkaloid 38 - 39 và 41 - 42 đã được đánh giá tác dụng gây độc tế bào ung thư biểu mô gan HepG2. Hai coumarin ostruthin (3) và dẫn xuất 8-methoxy (4), cùng với bốn acridon alkaloid citrusinin I (38), glycocitrin III (39), oriciacridon (41) và 5-hydroxynoracronycin (42) có IC50 thấp lần lượt là 30,53 ± 0,61, 62,90 ± 2,58, 51,40 ± 1,19, 31,66 ± 0,46, 52,50 ± 5,25 và 32,81 ± 0,87 µM, trong khi cả 2 hợp chất 1 và 2 không thể hiện tác dụng khi so sánh với chứng dương camptothecin (IC50 0,051 ± 0,007 µM) [18]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác, hợp chất ostruthin (3) cũng có giá trị IC50 cao > 50 µM/mL đối với HepG2, 55,78 µM đối với HTC-116 (tế bào ung thư ruột kết), 48,74 µM đối với MDA-MB-231 (tế bào ung thư biểu mô tuyến vú), 57,7 µM đối với OVCAR-8 (tế bào ung thư biểu mô buồng trứng người) và giá trị IC50 trung bình là 18,4 µM đối với Hela (tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung ở người), trong khi đó, các giá trị IC50 của đối chứng dương adriamycin lần lượt là 1,50, 0,50, 1,82, 1,21 và 1,48 µM [15].
Tác dụng chống viêm Các bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer, Pakinson hoặc Hungtington đang gia tăng trong những thập kỷ gần đây, liên quan đến hoạt động của các chất trung gian gây viêm như nitric oxid (NO) và protagladin E2 (PGE2) trong microglia [30]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, các hợp chất 3, 4, 8b, 14, 16 và 61 được phân lập từ P. trimera được sử dụng để ức chế các chất trung gian gây viêm NO và PGE2, nitric oxid synthase (iNOS) và protein cyclooxygenase-2 (COX-2) trong các tế bào vi khuẩn BV2 được kích thích bởi lipopolysaccharid (LPS). Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, chromen 61 hầu như không có tác dụng với giá trị IC50 > 80 µM.
Trong khi đó, coumarin 3 và 4 có tác dụng tốt nhất, với các giá trị IC50 lần lượt là 9,8 và 12,3 µM với NO, và 9,4 và 13,4 µM với PGE2. Ngoài ra, ba hợp chất còn lại 8b, 14 và 16 có giá trị IC50 lần lượt là 36,8, 36,5 và 46,8 µM với NO và 34,7, 32,1 và 52,8 µM với PGE2. Hơn nữa, bằng phương pháp phân tích Western blot, các hợp chất 3 và 4 cũng có tác dụng ức chế các chất trung gian gây viêm thông qua việc ức chế biểu hiện của protein iNOS và COX-2 trong các tế bào BV2 được kích thích bởi LPS [17]. Bên cạnh đó, tác dụng chống viêm của năm saponin tirucallan (paramignyosid A–E) được phân lập từ P.
scandens trên các cytokin gây viêm được đánh giá bằng cách định lượng lượng interleukin (IL)-12 p40, IL-6 và yếu tố hoại tử khối u-α (TNF- 12 α) được kích thích bởi LPS trong các tế bào đuôi gai có nguồn gốc từ tủy xương (BMDC). Paramignyosid C thể hiện tác dụng ức chế mạnh và chọn lọc (IC50= 5,03 ± 0,19 µM) khi lượng IL-12 p40 sinh ra tương đương với đối chứng dương SB203580 (IC50 = 5,00 ± 0,16 µM) [5]. Hoạt động ức chế α-glucosidase Các hợp chất 3, 4, 8a, 9 - 13, 38 - 40, 42 - 44, 58 và 60 được đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase khi acarbose được sử dụng làm đối chứng dương. Kết quả cho thấy, tất cả các hợp chất thử nghiệm đều có tác dụng đáng kể với giá trị IC50 thấp hơn đối chứng dương acarbose [11].
Tổng quan về cây Xáo leo (Paramignya scandens) Xáo leo có tên khoa học là Paramignya scandens (Griff.) Craib, thuộc họ Cam (Rutaceae). Trong y học cổ truyền, Xáo leo có tác dụng lợi tiểu thường được dùng để chữa bệnh tiểu tiện ra máu, đau bụng, đầy hơi, khó tiêu. Đặc điểm thực vật, phân bố của Xáo leo Đặc điểm thực vật: cây gỗ nhỏ leo, cành non có lông mịn, màu nâu, có gai nhỏ cong, có lông. Lá có phiến bầu dục, kích thước 7x3,5 cm, đầu tù hay có đuôi ngắn, đáy tròn, gân phụ 9-11 cặp, cuống 4-6 mm, có lông mịn.
Hoa thường 1 ở nách lá, cọng 1 cm; lá dài nhỏ, rìa lông, cánh hoa dài 7 mm, tiểu nhụy 10, bằng nhau, chi có lông, noãn sào có lông. Quả nhẵn, hình bầu dục, dài đến 1,5 cm [3]. Phân bố: ở Việt Nam, cây phân bố ở Hà Nam, Quảng Trị, Lâm Đồng [3]. Thành phần hóa học của Xáo leo Đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của Xáo leo.