CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN THÔNG TIN TRÊN KÊNH TRUYỀN 1. Tổng quan về an toàn thông tin trên mạng máy tính 1. Một số khái niệm Phần đầu tiên của đồ án này trình bày một số khái niệm thường được sử dụng trong lĩnh vực an toàn, bảo mật thông tin trên mạng máy tính. Theo Luật An toàn thông tin mạng, một số khái niệm được mô tả như sau: Mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng viễn thông và mạng máy tính.
An toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Hệ thống thông tin là tập hợp phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu được thiết lập phục vụ mục đích tạo lập, cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin trên mạng. Xâm phạm an toàn thông tin mạng là hành vi truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin. Sự cố an toàn thông tin mạng là việc thông tin, hệ thống thông tin bị gây nguy hại, ảnh hưởng tới tính nguyên vẹn, tính bảo mật hoặc tính khả dụng.
Rủi ro an toàn thông tin mạng là những nhân tố chủ quan hoặc khách quan có khả năng ảnh hưởng tới trạng thái an toàn thông tin mạng. Theo Luật An ninh mạng, một số khái niệm được mô tả như sau: Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 1 Bảo vệ an ninh mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng.
Tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự. Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để phá hoại, gây gián đoạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử. Khủng bố mạng là việc sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Gián điệp mạng là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, mật mã, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác để chiếm đoạt, thu thập trái phép thông tin, tài nguyên thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nguy cơ đe dọa an ninh mạng là tình trạng không gian mạng xuất hiện dấu hiệu đe dọa xâm phạm an ninh quốc gia, gây tổn hại nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Sự cố an ninh mạng là sự việc bất ngờ xảy ra trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nguy cơ mất an toàn thông tin trên mạng máy tính Trong mạng máy tính, người dùng sử dụng phần mềm trên các thiết bị đầu cuối như máy tính, smartphone,… kết nối với nhau qua các thiết bị mạng như switch, router, modem,. nhằm mục tiêu chia sẻ, trao đổi thông tin.
Khi xem xét các nguy cơ mất an toàn thông tin trên mạng máy tính, có thể xem xét theo khía cạnh sau: a) Nguồn phát sinh nguy cơ mất an toàn Nguy cơ mất an toàn từ phần cứng Mạng máy tính gồm các thiết bị phần cứng như: máy tính, dây truyền tín hiệu, bộ 2 thu/phát tín hiệu, thiết bị mạng,. Nếu các thiết bị phần cứng này hoạt động không ổn định sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của mạng. Một ví dụ minh họa về tình trạng hoạt động của mạng bị ảnh hưởng do phần cứng của mạng tại việt nam chính là một số vụ việc các đường truyền cáp quang từ Việt Nam đi quốc tế bị đứt, khi đó các truy cập từ Việt Nam đi quốc tế và ngược lại bị ảnh hưởng rõ ràng. Hầu hết các nguy cơ mất an toàn trên các thiết bị phần cứng trong mạng thường ảnh hưởng đến tính sẵn sàng của mạng, tuy nhiên cũng có một số báo cáo về việc phần cứng được chế tạo với một số thành phần không công bố hoặc bị lỗi thiết kế dẫn đến khả năng bị tấn công gây ảnh hưởng đến tính bí mật của thông tin.
Nguy cơ mất an toàn trong phần mềm Lỗi trong quá trình phát triển các phần mềm Trong mạng máy tính sử dụng các phần mềm để xử lý thông tin. Phần mềm được chia làm hai loại chính là phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng. Các phần mềm khi được phát triển đều tiềm ẩn trong bản thân nó những nguy cơ mất an toàn tiềm ẩn. Sau đây là một vài lỗi/nguy cơ mất an toàn trong quá trình phát triển một phần mềm.
Thông thường nguy cơ mất an toàn phần mềm do lỗi lập trình gây ra được chia thành hai nhóm: Nhóm chứa các lỗi chung và lỗi do ngữ cảnh gây ra. Nguy cơ mất an toàn do cấu hình yếu Trong một số trường hợp, người thiết kế ứng dụng và người sử dụng dịch vụ mạng phải cân nhắc lựa chọn giữa sự an toàn và hiệu quả. Trường hợp dễ thấy nhất là giả sử một ứng dụng mã hóa thông tin bằng một thuật toán sử dụng thuật toán RSA. Rõ ràng nếu như sử dụng khóa có độ dài càng lớn thì độ an toàn càng được đảm bảo, tuy nhiên tốc độ mã hóa-giải mã sẽ tỷ lệ nghịch với độ an toàn.
Do đó một số người dùng có thể cấu hình chương trình để chạy với khóa có độ dài ngắn để tăng tốc độ. Một ví dụ khác là trong dịch vụ web, một số quản trị viên có thể không cấu hình để cho web server chạy https để giảm độ phức tạp, tuy nhiên điều đó đồng nghĩa với việc dữ liệu truyền nhận giữa Webserver và Webclient sẽ được truyền ở dạng rõ Nguy cơ mất an toàn do người sử dụng Trong an toàn hệ thống nói chung và an toàn ứng dụng và dịch vụ mạng nói riêng thì người sử dụng luôn được coi là một điểm yếu cần quan tâm. 3 Trong các loại hình tấn công mạng phổ biến thì tấn công kênh kề là một loại hình tấn công rất khó chống, trong đó hình thức tấn công người dùng thông qua các hình thức giả mạo, lừa gạt để người dùng để lộ thông tin nhạy cảm rất được ưa chuộng và đạt tỷ lệ thành công khá cao đối với những người dùng chưa có ý thức tự bảo vệ và trình độ tương đối hạn chế. Theo khảo sát gần đây của Kaspersky Lab – một công ty cung cấp phần mềm chống virus cho thấy, có tới hơn 30% người sử dụng máy tính thừa nhận thường xuyên truy cập vào các điểm phát Wifi công cộng để lướt web và có 14% mua sắm trực tuyến mà không có các biện pháp đặc biệt để bảo vệ.
Tình trạng trên khiến người dùng dễ trở thành mục tiêu tấn công của tội phạm mạng thông qua việc đánh cắp thông tin của người dùng. Khi đó, tội phạm mạng đóng vai trò là máy trung gian cho việc trao đổi thông tin giữa hai thiết bị. Từ đây, quá trình trao đổi mọi thông tin sẽ gửi qua tin tặc, sau đó mới đến máy đích. Qua phương thức này, tin tặc không chỉ đánh cắp được dữ liệu từ người dùng mà còn can thiệp luồng dữ liệu để kiểm soát sâu hơn những nạn nhân của chúng.
Một trường hợp khác là mạng Wifi người dùng đang kết nối là giả mạo, không thuộc về các quán cà phê, nhà hàng, khách sạn. Nếu chẳng may gặp hình thức tấn công này, tin tặc có thể dễ dàng chụp bất kỳ dữ liệu bí mật mà ta gõ, tiếp cận với những gì có trên thiết bị của chúng ta, cài đặt mã độc trên thiết bị hoặc thậm chí sử dụng thiết bị của chúng ta để phân phối tin nhắn rác cho họ [1]. b) Một số tấn công gây mất an toàn thông tin Tấn công sử dụng phần mềm độc hại Virus: Virus là một phần mềm được thiết kế để lây lan từ máy tính này sang máy tính khác. Chúng thường dược gửi dưới dạng tệp đính kèm email hoặc được tải xuống bởi các trang web cụ thể với mục đích lây nhiễm máy tính của người dùng và các máy tính khác trong danh sách liên hệ bằng cách sử dụng các hệ thống trên mạng của họ.
Virus thường được biết với thư giác , nó có thể vô hiệu hóa cài đặt bảo mật của người dùng, làm hỏng và đánh cắp dữ liệu từ máy tính của người dùng bao gồm cả thông tin cá nhân như mật khẩu, thậm chí sẽ xóa mọi thứ trên ổ cứng của họ. Một số loại virus thường gặp: 4 Virus trên file: Các virus loại file thường lây vào các tệp chương trình như các tệp. Các virus này thường lây nhiễm sang các tệp khác khi ta chạy các tệp đã lây nhiễm trên ổ đĩa cứng, USB hoặc trên mạng. Chúng thường nằm lại trên bộ nhớ, sau khi bộ nhớ máy tính bị nhiễm virus, virus này có thể lây lan sang các tệp chương trình khác.
Virus trên Boot sector: Virus có thể lây nhiễm vào các Boot sector của ổ đĩa cứng hoặc USB ở nơi chứa các chương trình khởi động. Khi ta khởi động máy từ ổ đĩa đã bị lây nhiễm loại virus này chúng sẽ thường chú trong bộ nhớ máy tính và lây nhiễm sang các đĩa cứng hoặc USB khi ta sử dụng.