Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn của dé tài. Chương 2: thiết kế sử dụng Infographic ngành nghé truyền thong Việt Nam nhằm GD giá trị văn hóa cho HS TH. Chương 3: thực nghiệm sư phạm § Phan kết luận và khuyến nghị: những kết quả đạt được. những khuyến nghị và hướng phát triển của đề tài.
Phân tài liệu tham khảo: những tài liệu tham khảo được sử dụng trong quá trình tiền hành nghiên cứu. Phân phụ lục: phiếu khảo sát, bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm và đáp án, KHBD đẻ tài đã xây dựng, kiểm định T-test. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN VE XÂY DUNG BO INFOGRAPHIC CÁC NGANH NGHE TRUYEN THONG VIỆT NAM NHAM GIAO DUC GIA TRI VAN HOA CHO HOC SINH TIEU HOC 1. Tong quan nghiên cứu đề tài 1.
Các nghiên cứu trên thế giới Hu Yan và cộng sự (2014), bảo vệ và phát triển ngành nghề truyền thong là một biện pháp quan trọng của Trung Quốc trong thời đại mới. Việc thực hành bảo vệ đã bước vào một giai đoạn lịch sử quan trọng và đã khơi dậy một luồng tư duy mới về việc bảo vệ các ngành nghẻ truyền thong của mọi tang lớp xã hội (Wang Xiaoming, 2013). Các làng có di sản văn hóa vật thê và phi vật thé có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, kinh tế xã hội được gọi là làng truyền thông, phan ánh phong cách truyền thong, đặc trưng dân tộc của các thời kỳ lịch sử tương ứng, nên văn minh nông nghiệp điện hình va văn hóa truyền thống. Sự phát trién va bảo vệ các làng nghé truyền thông không chỉ liên quan đến sự tổn tại của sự đa dang mà còn liên quan đến sự tái thiết thành công của văn hóa truyền thông.
Hơn nữa, ngành nghề truyền thống có thê đánh thức ý thức về một cộng đồng chung vận mệnh rằng văn hóa làng nghề truyền thống và văn hóa con người có mối liên hệ với nhau, đồng thời có những đóng góp mới cho sự nghiệp giao lưu, tương tác văn hóa của người dân ở các khu vực (J Bian, 2008). Ở Nhật Ban, các ngành nghề thủ công truyền thống được đặc biệt quan tâm. Hàng thủ công được sản xuất bởi những người nắm giữ tài sản văn hóa phi vật thể quan trọng (Bau vật sống quốc gia) và kỹ thuật thú công truyền thông được kế thừa. Ngoài ra, các chỉ tiết kỹ thuật được lưu giữ trong tất cả các loại phương tiện ghi âm và văn hóa thủ công của Nhật Bản mới phát triển một nửa (Toru Toyama, 2004).
Người Nhật đã có sự chú trọng trong GD các ngành nghề truyền thống cho thé hệ trẻ. Cuộc sống của họ gắn liền với nghé thủ công truyền thông và đã kết hợp vào cuộc sống hàng ngày. Và họ đưa vào các bài học sáng tạo của mình và áp dụng nó vào cuộc sông cũng như môi trường GD của trẻ em. Những nghé thủ công truyền thong của Nhật Bản đã được truyền từ đầu đến tận trung tâm Nhật Bản.
Như vậy, trẻ em có thé sống cuộc sống của mình một cách có ý thức (Yoko Tajima, 2015). 10 Trong Hội nghị liên quan Thành phố bền vững, Mat Radzuan và cộng sự (2022) nói về “Co chế khuyến khích bảo tồn các làng nghè truyền thong ở Nhật Bản và Hàn Quốc” đã được chính quyền Nhật Bản và Hàn Quốc xây dựng nhằm thúc đây việc bảo tồn di sản văn hóa, đặc biệt là bảo ton các làng nghệ truyền thống đặc sắc của họ. Tuy nhiên, sự tôn tại của các làng truyền thống trong bồi cảnh đương đại được coi là mong manh đối với các quốc gia này vì nhiều ngôi làng trong số đó đã bị phá bỏ do áp lực đô thị hóa. Ngoài ra, các tác giả còn chỉ trích chính sách khuyến khích do không có khả năng cung cấp lợi ích công bằng và hợp lý cho cư dân địa phương trong khu vực làng xa.
Tóm lai, các nghiên cứu về ngành nghé truyền thống đã va đang được các nước trên thé giới quan tâm, mỗi nghiên cứu déu hướng tới việc bảo tén và phát triển các ngành nghé truyền thống ở mỗi quốc gia, rất nhiều giải pháp hướng tới nhiều lĩnh vực khác nhau đã được tìm thấy và đưa ra. Tất cả nghiên cứu đều mong muốn giữ được giá trị cốt lõi, tiếp tục phát huy văn hóa truyền thống vốn có của dat nước, phát triển các ngành nghé mang tính biểu tượng của một vùng miền hay một đất nước. Các nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến các van dé làng nghé truyền thống. Phạm Côn Sơn (2014) với “Lang nghề truyền thong ở Việt Nam”, tác giả tập trung vào việc phân tích các giá trị làng nghé truyền thống có ở Việt Nam, nhằm bảo tồn, phát triển làng nghé và có ý nghĩa trong tiến trình phát triển dat nước khi công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế thành công.
Trong “Tổng tập Nghề và làng nghệ truyền thong Việt Nam”, Trương Minh Hang (2013) đã giới thiệu bộ sách gồm 6 tập: “Tap 1: Tổng quan về nghề và làng nghệ truyền thong Việt Nam, xuất ban 2012; tập 2- Nghẻ chế tác kim loại, xuất ban 2012; tap 3- nghề mộc, chạm, xuất bản năm 2011; tập 4-Nghé gốm, xuất bản 201 1; tập 5- nghệ dan lát, thêu dét, nghề lam giấy, đồ mã và nghề làm tranh dân gian, xuất bản 2011; tập 6- nghề chế tác đá, nghề sơn và một số nghề khác ”. Tác giả đã tập trung phân tích các khía cạnh về văn hóa, lịch sử, và giá trị nghệ thuật của các ngành nghề. Bên cạnh đó, tác giả tập trung vào việc tái hiện và phân tích các khía cạnh quan trọng của từng làng nghề. bao gồm quy trình sản xuất, nguyên liệu sử dụng, các sản phẩm tạo ra và những thách thức mà làng nghề đang đối mặt trong thời đại hiện nay.
Tác giả cũng chú ý đến các yếu 1] tổ liên quan đến sự phát triển và duy tri các làng nghề truyền thong, như việc kế thừa kỹ thuật, đào tạo thé hệ mới và van dé kinh tế liên quan đến hoạt động của các làng nghé. “Lang Nghệ Trong Cuộc Sống Phát Triển Dat Nước” gồm những bài chọn lọc trong nhiều bài viết, chuyên dé đã đăng báo hoặc phát biểu tại các cuộc hội thảo của tác giả về làng nghề cùng những bài viết có liên quan về đôi mới thé chế kinh tế, cải cách hành chính. là những điều kiện không thẻ thiểu dé bảo tồn và phát triển làng nghề (Vũ Quốc Tuan, 2012). Bùi Việt Thanh (2017) đã nghiên cứu về làng nghề thủ công nhìn nhận từ góc độ riêng biệt, văn hóa dân gian, văn hóa, dân số lịch sử kinh tế theo các chuyên ngành mà ít nhìn nó trong mỗi quan hệ tương hỗ mạnh mẽ.
Nghiên cứu về mồi quan hệ tương hỗ giữa văn hóa va kinh tế từ cách tiếp cận nhân học lam rõ được mối quan hệ vẻ đời sống của hộ sản xuất tại làng nghé thủ công. ở đó kinh tế và văn hóa cộng hưởng mạnh mẽ qua thời gian. Phạm Minh Hạc (2010) với “Mot số vấn dé giáo dục Việt Nam đầu thé ky XXT”, có dé cập đến triết lý giáo dục, trong đó phải truyền thy cho thé hệ trẻ hệ giá trị dan tộc — các giá trị truyền thông tốt dep, đã tạo nên bản sắc dân tộc — tinh than dân tộc. Tác giả đã dẫn những đánh giá, quan điểm về van đề hệ giá trị Việt Nam, phải định hướng giá trị dé giáo dục, tự giáo dục.
Về cơ ban, các hệ giá trị Việt Nam ma ông đẻ xuất là những giá trị truyền thống mà dé tài cần giải quyết làm cơ sở lí luận cho việc giáo dục nó thông qua mĩ thuật. Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã tập trung nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của làng nghề, quản lý làng nghé phát triển làng nghe du lịch và đưa ra những giải pháp khác nhau nhằm phát triển làng nghề. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực GD giá trị truyền thông cho HS TH qua giới thiệu các làng nghề ở Việt Nam bang sử dung Infographic còn hạn chẽ. Cơ sở lí luận đề tài 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Giá trị văn hoá Giá trị là một khái niệm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận. Trong đạo đức học. khái niệm giá trị gắn liền với những khái niệm cơ bản như cái thiện, cái ác, công bằng, bình đăng, bác ái.
trong phạm vi đời sống đạo đức của con người và các chuẩn mực, quy tắc đạo đức xã hội (N guyén Thj Thu, 2020). Mat khac, quan niệm về giá trị cũng được hiểu: “Cái đã làm cho một khách thé nào đó có ich, có 12 ý nghĩa, đáng quý đổi với chủ thé và được mọi người thừa nhận. Theo đó có thé phân chia giá trị như là giá trị vật chất, giá trị tinh thân, giá trị xã hội ” (N guyen Thị Mỹ Lộc và cộng sự, 2010). Theo UNESCO (2022), văn hoá được dé cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về vật chất, tri thức, xúc cảm, tâm hồn của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và chứa đựng các yếu tố về văn học, nghệ thuật, cách sống, hệ thông giá trị vả đức tin.
Theo Bộ Giáo duc và Dao tạo (2018), các khía cạnh ấy được con người sáng tạo và tích luỹ thông qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Xuất phát từ các quan điểm trên, giá trị văn hoá được hiểu là những giá trị tinh than và vật chat mang tính nhân sinh va tính lịch sử, được tích lũy qua thời gian, do con người sáng tạo ra (Phạm D6 Nhật Tiến và cộng sự, 2020). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định khái niệm giá trị văn hoá là yếu tố cốt lõi của văn hoá được hình thành qua quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, xã hội nhất định nhằm hướng đến đáp ứng các nhu cau của cộng đồng vẻ những điêu tốt đẹp — “chân, thiện, mỹ”. Giáo dục giá trị văn hóa Theo Nguyễn Hồng Thuận (2020), giáo dục giá trị văn hoá cho HS là quá trình GV truyền tải đến người học các giá trị về tình thần yêu nước, nhân ái, trách nhiệm.
và các quy tắc ứng xử và hành vi đạo đức phù hợp với chuan mực xã hội. Theo đó, việc giáo dục giá trị văn hoá cũng được xem là cái căn bản, cái gốc cho sự hình thành phát triển nhân cách ở HS, từng bước thay đôi nhận thức của HS trong việc phân biệt được cái hay, cái đẹp.