Tổng quan nghiên cứu
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) giữ vị trí chiến lược hàng đầu trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, cung cấp nguồn thực phẩm giàu protein, lipid thực vật và cải tạo độ phì nhiêu của đất nhờ vi khuẩn nốt sần cố định đạm. Theo các số liệu thống kê ngành nông nghiệp, giai đoạn 2005 - 2007, diện tích gieo trồng đậu tương tại Việt Nam đạt đỉnh điểm khoảng 203,6 nghìn ha với sản lượng xấp xỉ 291,5 nghìn tấn, nhưng năng suất bình quân chỉ dao động ở mức 14,3 - 14,7 tạ/ha. Năng suất này còn khá thấp so với tiềm năng năng suất thế giới (như Mỹ và Brazil đạt trên 28,7 tạ/ha), chủ yếu do thiếu bộ giống thích ứng đa dạng theo từng mùa vụ canh tác, đặc biệt là các giống chịu hạn và kháng sâu bệnh cho vụ hè thu và thu đông.
Nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trên, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Di truyền và Chọn tạo giống cây trồng đã tập trung nghiên cứu xử lý đột biến thực nghiệm trên hạt giống bằng tác nhân hóa học Ethyl Methane Sulfonate (EMS) ở nồng độ 0,5%. Mục tiêu cụ thể là phân lập, sàng lọc và đánh giá các biến dị di truyền có lợi về đặc tính nông học, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể ở thế hệ M2 và M4 từ ba giống đậu tương gốc gồm ĐT12, ĐVN9 và ĐT20. Công trình được triển khai thực hiện tại Khoa Công nghệ sinh học và Bộ môn Di truyền chọn giống - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 2009 - 2011. Kết quả của luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu phong phú phục vụ chiến lược chọn tạo giống đậu tương năng suất cao trên 20 - 25 tạ/ha, rút ngắn thời gian tạo giống từ 6 - 10 thế hệ truyền thống xuống còn 3 - 4 thế hệ chọn lọc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đột biến thực nghiệm và di truyền số lượng trong chọn tạo giống thực vật. Đột biến tự nhiên trong quần thể thực vật thường có tần số xuất hiện cực kỳ thấp (khoảng 10^-6), trong đó tỷ lệ đột biến có lợi cho sản xuất chỉ chiếm khoảng 2 - 3%. Để khắc phục hạn chế này, phương pháp gây đột biến nhân tạo bằng tác nhân hóa học nhóm alkyl hóa - tiêu biểu là Ethyl Methane Sulfonate (EMS) - được áp dụng nhằm cảm ứng tạo ra các đột biến gen điểm với tần số biến dị cao gấp 5 đến 10 lần so với đối chứng tự nhiên mà ít gây đứt gãy hay sai hình cấu trúc nhiễm sắc thể nặng nề như tia phóng xạ gamma (vốn cần liều 5 - 30 kR).
Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình phân tích tương quan di truyền giữa các tính trạng hình thái và năng suất hạt theo các nghiên cứu kinh điển của di truyền học thực vật. Cụ thể, các chỉ tiêu cấu thành năng suất được phân nhóm theo hệ số tương quan thuận chặt chẽ (r > 0,6) bao gồm số quả trên cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, diện tích lá (tương quan r = 0,89) và khối lượng 1000 hạt. Ngược lại, các tính trạng như tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ lép và tỷ lệ nhiễm bệnh có tương quan nghịch với năng suất cá thể.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn vật liệu phục vụ nghiên cứu gồm 3 giống đậu tương có đặc tính sinh học đối lập: giống ĐT12 (thời gian sinh trưởng cực ngắn 72 - 78 ngày, thích hợp vụ hè), giống ĐVN9 và giống ĐT20 (dòng chọn lọc có sinh trưởng 100 - 110 ngày, thân cao to, 18 - 22 đốt, tiềm năng năng suất cao). Cỡ mẫu ban đầu gồm hàng nghìn hạt thuần chủng của mỗi giống được ngâm và xử lý trực tiếp bằng dung dịch EMS 0,5% trong điều kiện nhiệt độ phòng tiêu chuẩn.
Phương pháp bố trí thí nghiệm tuân thủ quy trình chọn giống phả hệ: thiết lập quần thể thế hệ phân ly M2 theo phương pháp gieo cây thành hàng để theo dõi chi tiết từng gia đình cá thể; tiếp tục chọn lọc dòng ưu tú qua thế hệ M3 và đánh giá độ ổn định ở thế hệ M4. Các chỉ tiêu theo dõi gồm thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (ra hoa, kết quả, chín), chiều cao cây, số cành cấp 1, số đốt, tổng số quả, số quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt, 4 hạt, tỷ lệ quả chắc và năng suất hạt/cây. Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm phân tích chuyên dụng (BioStat, Excel) để kiểm định giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan ở mức ý nghĩa p < 0,05 và p < 0,01.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình xử lý hóa chất EMS 0,5% đã tạo ra phổ biến dị phong phú trên cả 3 quần thể giống đậu tương nghiên cứu từ thế hệ M2 đến M4:
- Biến dị về đặc điểm sinh trưởng và hình thái: Quần thể M2 xuất hiện nhiều dòng đột biến phân ly rõ rệt về chiều cao cây và khả năng đẻ cành. Ở giống ĐVN9, chiều cao cây biến thiên từ 35,2 cm đến 68,5 cm (so với đối chứng 52,4 cm), số cành cấp 1 tăng từ 2,1 cành ở đối chứng lên 3,8 - 4,5 cành/cây ở các dòng đột biến triển vọng (tăng trên 40%). Ở giống ĐT20, ghi nhận các dòng đột biến thân thấp lùn cứng cây (giảm 15 - 20% chiều cao) giúp nâng cao khả năng chống đổ ngã.
- Biến dị về cấu thành năng suất: Số lượng quả trên cây và số quả chắc đạt bước đột phá. Tại thế hệ M4, một số dòng đột biến từ gốc ĐT12 và ĐVN9 đạt tổng số quả chắc từ 45 - 62 quả/cây, vượt đối chứng gốc từ 22,5% đến 38,4%. Đặc biệt, tỷ lệ quả 3 hạt ở giống ĐT20 tăng từ 42,1% lên 58,6%, đồng thời xuất hiện đột biến quả 4 hạt hiếm gặp chiếm tỷ lệ 3,2 - 5,1% tổng số quả.
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng: Đã chọn lọc được 4 dòng đột biến từ giống ĐVN9 có thời gian chín sớm hơn đối chứng từ 7 đến 11 ngày nhưng vẫn duy trì khối lượng 1000 hạt ở mức 155 - 168 gam, đáp ứng hoàn hảo yêu cầu né hạn cuối vụ.
Thảo luận kết quả
Các biến dị thu nhận được khi xử lý EMS 0,5% phản ánh bản chất tác động phân tử của tác nhân alkyl hóa, gây nên sự thay thế cặp base (chuyển dịch nucleotide) dẫn đến tái tổ hợp biểu hiện của các gen kiểm soát tính trạng số lượng. Khi so sánh với các nghiên cứu chiếu xạ tia gamma liều 5 - 10 kR trước đây (thường làm giảm tỷ lệ nảy mầm xuống dưới 50% và tạo nhiều thể dị hình bất thụ), tác nhân EMS ở nồng độ 0,5% duy trì tỷ lệ sống của cây M1 trên 65% và tạo ra tần số đột biến có lợi ở M2 đạt 3,4 - 4,8%.
Số liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua đồ thị phân bố chuẩn về số quả chắc và bảng so sánh các yếu tố cấu thành năng suất giữa quần thể M4 với các giống gốc. Sự gia tăng đồng thời giữa số cành cấp 1 và số đốt mang quả đã giải thích nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự gia tăng năng suất cá thể vượt trội (đạt từ 18,2 - 24,6 g/cây so với 14,5 g/cây ở đối chứng). Những dòng đột biến này đã khắc phục hoàn toàn nhược điểm phân cành kém của giống ĐT12 và khắc phục tính mẫn cảm với điều kiện bất thuận của giống ĐT20, mở ra triển vọng to lớn trong việc tạo nguồn gen chịu hạn và thích ứng rộng.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm chuyển giao và phát huy tối đa giá trị thực tiễn từ các kết quả nghiên cứu của luận văn, 4 giải pháp cụ thể được đề xuất:
- Tiếp tục thuần hóa, nhân dòng và đánh giá độ thuần di truyền của các dòng đột biến ưu tú ở thế hệ M5 và M6, hướng tới mục tiêu ổn định năng suất thực thu đạt trên 22 - 25 tạ/ha. Công việc này cần được Bộ môn Di truyền chọn giống hoàn thiện trong giai đoạn 12 - 24 tháng tiếp theo.
- Thiết lập khảo nghiệm đồng ruộng tại 3 vùng sinh thái trọng điểm gồm Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Thái Bình), Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La) và Đông Nam Bộ để xác định chính xác độ thích nghi vụ hè thu và thu đông trước năm 2013.
- Ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử (chỉ thị SSR, SNP) kết hợp lập bản đồ QTL nhằm xác định chính xác vị trí các gen đột biến chịu hạn và các locus liên quan đến tỷ lệ quả 3 - 4 hạt do Viện Công nghệ sinh học và các phòng thí nghiệm trọng điểm thực hiện.
- Hoàn thiện quy trình chuẩn hóa kỹ thuật xử lý hóa chất EMS ở nồng độ 0,5% kết hợp thời gian ngâm 6 - 8 giờ cho hạt giống các loại đậu đỗ khác, nhằm cung cấp quy chuẩn kỹ thuật phục vụ các đơn vị nghiên cứu giống cây trồng trên toàn quốc.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung toàn diện của bản luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng:
- Các nhà khoa học, chuyên gia chọn tạo giống cây trồng: Cung cấp tài liệu thực chứng về phương pháp đột biến hóa học, quy trình phân lập dòng phả hệ M2 - M4 và dữ liệu về tính tương quan nông học trên cây họ Đậu.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Nông học, Di truyền học và Công nghệ sinh học nông nghiệp: Nguồn tài liệu học thuật tiêu chuẩn phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về đột biến nhân tạo, đa dạng di truyền và phương pháp xử lý số liệu sinh học thực nghiệm.
- Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hạt giống nông nghiệp: Nắm bắt các dòng đột biến đậu tương mới có năng suất cao, chín sớm và chất lượng hạt tốt để định hướng hợp tác phát triển thương mại hóa sản phẩm giống.
- Cán bộ khuyến nông và cán bộ quản lý ngành trồng trọt: Cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, đưa các giống đậu tương đột biến ngắn ngày vào hệ thống luân canh 3 - 4 vụ/năm nhằm tăng hệ số sử dụng đất và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn tác nhân hóa học EMS ở nồng độ 0,5% mà không dùng tia phóng xạ? Bởi vì EMS là tác nhân alkyl hóa chủ yếu gây đột biến điểm (thay thế cặp nucleotide), tạo ra phổ đột biến phong phú với tần số đột biến có lợi cao (đạt 3 - 5%) mà ít gây gãy vỡ nhiễm sắc thể hay làm chết phôi hàng loạt như tia phóng xạ gamma liều cao 10 - 30 kR.
-
Các dòng đột biến ở thế hệ M4 đã có độ ổn định di truyền hoàn toàn chưa? Ở thế hệ M4, phần lớn các locus gen kiểm soát tính trạng hình thái và thời gian sinh trưởng đã đạt trạng thái đồng hợp tử từ 85 - 93,75%. Tuy nhiên, để đưa vào sản xuất đại trà cần tiếp tục chọn lọc cá thể qua thế hệ M5 - M6 nhằm đảm bảo độ đồng đều 100%.
-
Giống đột biến nào cho tiềm năng năng suất cao nhất trong nghiên cứu? Các dòng đột biến có nguồn gốc từ giống ĐT20 và ĐVN9 ở thế hệ M4 cho năng suất cá thể cao nhất, vượt đối chứng từ 18% đến 38,4% nhờ tăng số cành cấp 1 (đạt 3,8 - 4,5 cành) và nâng cao tỷ lệ quả 3 - 4 hạt trên cây.
-
Làm thế nào để phân biệt biến dị di truyền đột biến với biến dị thường biến do môi trường? Nghiên cứu áp dụng phương pháp gieo cây thành hàng theo từng gia đình ở thế hệ phân ly M2, so sánh đối chứng song song trên cùng một nền đồng ruộng và theo dõi liên tục tính trạng biến dị qua các thế hệ M3, M4 để khẳng định tính di truyền ổn định.
-
Đậu tương đột biến tạo ra bằng hóa chất EMS có phải là sinh vật biến đổi gen (GMO) không? Không. Phương pháp đột biến nhân tạo bằng hóa chất EMS thuộc nhóm chọn giống đột biến truyền thống (Mutation Breeding), chỉ làm biến đổi cấu trúc gen nội tại của cây trồng chứ không tiếp nhận gen ngoại lai từ loài khác như công nghệ chuyển gen (GMO), do đó an toàn tuyệt đối và được pháp luật quốc tế công nhận là giống thông thường.
Kết luận
- Công trình đã khẳng định hiệu quả vượt trội của phương pháp gây đột biến thực nghiệm bằng Ethyl Methane Sulfonate (EMS) nồng độ 0,5% trong việc tạo nguồn biến dị di truyền phong phú trên cây đậu tương.
- Đã phân lập và tuyển chọn thành công các dòng đột biến ưu tú ở thế hệ M4 từ 3 giống gốc ĐT12, ĐVN9 và ĐT20 với năng suất cá thể tăng từ 18,2% đến 38,4% và số quả chắc đạt 45 - 62 quả/cây.
- Phát hiện các dạng đột biến quý về thời gian sinh trưởng (rút ngắn 7 - 11 ngày), dạng hình cứng cây chống đổ và dòng mang tỷ lệ quả 4 hạt đạt trên 3,2%.
- Đóng góp nguồn vật liệu di truyền quý giá cho ngân hàng gen cây trồng quốc gia và hoàn thiện quy trình chọn giống đột biến phả hệ M2 - M4 trong nông nghiệp.
- Các đơn vị nghiên cứu và phát triển nông nghiệp cần nhanh chóng đưa các dòng đột biến M4 ưu tú này vào khảo nghiệm diện rộng để sớm công nhận giống mới phục vụ sản xuất thực tiễn.